QUY TRÌNH THU HÁI VÀ CHẾ BIẾN DƯỢC LIỆU

I. THU HÁI:

Theo quan điểm hiện nay tất cả những loại thuốc từ cỏ cây hoa lá đều được gọi chung là Đông dược. Đông dược đã được nghiên cứu, sắp xếp từ xa xưa, căn cứ vào sách “ Bản thảo cương mục” của Lý Thời Trân ghi chép có 1892 loại, về sau Triệu Học Mẫn viết “ Bản thảo cương mục thập di” lại tăng them 762 loại  nữa. Về sau tiếp tục có những thảo dược được phát hiện trong dân gian, nói chung có tới 3000 loại, những loại Đông dược này đa số là thực vật, vì thế các sách vở viết về dược vật của Đông y được gọi là “ Bản thảo”.

Nơi sản xuất và thời kỳ thu hái dược liệu có quan  hệ chặt chẽ đối với hiệu quả của thuốc. Cho nên Lý Đông Viên – một thầy thuốc nổi tiếng đã từng nói : “ tất cả các loại thảo mộc, côn trùng đều có nơi sinh ra, rễ ,lá, hoa, quả có thời buổi để thu hái. Làm mất đi thời điểm thu hoạch thì khí vị không còn hoàn toàn.”

Một ví dụ điển hình có thể thể nhận thấy ngay đó là Cây Nhân Sâm, Nhân Sâm mọc ở Triều Tiên tác dụng một trời một vực so với cây Nhân Sâm mà chúng ta di thực mang về trồng ở vùng núi phía Bắc. Vì thế còn hình thành nên những vị thuốc được đặt tên theo tên  gọi nơi sản xuất hay thu hái, chẳng hạn như Đảng sâm là sâm được trồng ở quận Thượng Đẳng bên Trung Quốc, Đẳng sâm ở đây được cho là tốt hơn Đẳng sâm ở các nơi khác. Hay ở nước ta cũng vậy, loại Chè dây sản xuất ở Cao Bằng có chất lượng khác hẳn so với Chè dây ở các vùng khác

Trước mắt có một số vị thuốc không còn cần thiết nữa, có một số vị thuốc cần viết rõ rang hơn. Vì thực vật sản xuất ra đều có từng thời kỳ chin nhất định. Bộ phận dùng làm thuốc lại có rễ, cành, lá, hoa, quả khác  nhau vì thế tác dụng của dược liệu bảo toàn hay tiêu mất hoàn toàn dựa vào thời tiết có thích hợp hay không, thu hoạch có kịp thời hay không. Không những đề cao được hiệu quả mà còn giữ gìn được uy tín của sản phẩm. Chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt như sau:

1. Rễ ( Đông y hay gọi là Căn): lấy bộ phận rễ dùng làm thuốc là để lấy cái khí vị thăng bốc của thuốc chẳng hạn như Thăng ma, Cát căn, lấy rễ thì nên thu hoạch vào cuối mùa thu hay mùa đầu mùa đông, hoặc là cuối đông đầu xuân khi lá đã dụng hết, chồi mầm chưa kịp mọc, tinh hoa còn chứa ở trong rễ nên tác dụng sẽ mạnh hơn.

2. Cành: Đông y gọi là Chi, cành thì có thể thăng, có thể giáng nhằm điều khí như Tô ngạnh, Cành dâu… nên thu hoạch vào cuối xuân và mùa hạ khi cây thuốc đang ở độ tươi tốt nhất.

3. Lá ( Đông y gọi là Diệp): lá có tác dụng tuyên tán như Lá dâu( Tang diệp), Lá sen( hà diệp) cũng thu hoạch vào thời điểm tươi tốt nhất, nhưng không nên thu hái vào lúc vừa tạnh mưa để ngăn chặn mốc và biến chất, không thu hái vào buổi trưa nắng và lúc này lá đang trong quá trình quang hợp trao đổi chất nên hoạt chất trong lá có khác, nên hái lúc sáng sớm và cuối buổi chiều.

4. Hoa: lấy ý nghĩa thơm tho tuyên tán như Cúc hoa, Kim ngân hoa, Hoa tam thất nên thu hoạch lúc mới chin chưa nở hoặc giai đoạn nụ khi chưa nở tung thì khí vị rất ngọt ngào

5. Quả: lấy ý nghĩa là giáng xuống như chỉ thực , thanh bì…nên thu hái vào lúc chớm chín chưa chín hẳn, chín nục.

6. Hạt: Đông y gọi là tử, lấy cái khí giáng xuống của vị thuốc như Tô tử, Xa tiền tử…thu hoạch khi đã chin già.

7. Nhân: lấy tác dụng nhuận hạ như các vị Hạnh nhân, Bá tử nhân thu hoạch vào lúc chín già.

8. Tiết: Đông y gọi là đốt, lấy tác dụng lợi các khớp xương, như cây Sói rừng ( còn gọi tiết cốt mộc) thu hoạch khi cây già rắn chắc là tốt.

9. Mầm: Đông y gọi là nha, nhằm công dụng phát triển như vị Cốc nha, Mạch nha …tùy mục đích sử dụng mà thúc cho mầm dài hay ngắn.

10. Gai: Đông y gọi là thích, nhằm vào tác dụng công phá như Gai bồ kết ( tạo giác thích)…thu hoạch khi gai còn xanh rắn chắc là tốt.

11. Vỏ: Đông y gọi là bì, lấy vỏ để dẫn thuốc ra lớp bì phu, lấy ý nghĩa đạt thuốc ra bì phu như vỏ gừng( sinh khương bì,) vỏ nấm phục  linh( phục  linh bì)…

12. Ruột: Đông y gọi là tâm, lấy ý nghĩa đi vào nội tạng như Tâm sen, Đăng tâm thảo…thu hái khi đạt đến độ chín.

13. Lạc ( Xơ): có ý nghĩa đưa thuốc vào kinh lạc như Ty qua lạc ( xơ mướp) thu hái khi đã đạt đến độ trưởng thành nhất.

14. Dây: Đông y gọi là đằng, như Kê huyết đằng, Khoan cân đằng…lấy tác dụng có thể đi ra đường kinh lạc tứ chi, loại này nên thu hoạch khi cây còn xum xuê tươi tốt.

Trên đây là nói chung khi ứng dụng, thực tiễn còn có phân biệt nữa, ví dụ như vị thuốc Cát căn là rễ cây sắn dây, rễ rắn chắc thì thăng được tân dịch mà không thăng được khí, rễ Thăng ma rỗng không thăng được khí mà  không thăng được tân dịch. Rễ của Ngưu tất rắn chắc mà  không rỗng, vị đắng mà khí không phát thì không có sức để thăng phát. Cho nên xác định cụ thể tác dụng của vị thuốc cần phải xem xét toàn diện từ hình thái màu sắc cho đến khí và vị, không nên xem xét một điểm nào đó mà vội kết luận, tức  như thời kỳ thu hái cũng vì thời tiết mà có lúc thu hoạch sớm hoặc muộn. Khí hậu có lúc biến hóa, đối với sự sinh trưởng, phát triển của cây thuốc cũng có ảnh hưởng, cho nên THIÊN ĐƯỜNG THUỐC NAM chúng tôi còn phải căn cứ vào tình hình thực tiễn mà quyết định công việc trồng và thu hái cây thuốc.

II. CHẾ BIẾN DƯỢC LIỆU

1. Mục đích:

  • Bảo quản: chế biến làm tăng thời gian bảo quản, tránh mốc, mọt. làm khô thuốc, giảm độ ẩm, làm thay đổi tính chất của một số thành phần hóa học dễ gây nấm mốc, diệt men có trong thuốc để ổn định thuốc, tạo ra lớp bảo vệ.
  • Tạo ra tác dụng trị bệnh mới, chẳng hạn chế sinh địa vị đắng ngọt tính mát tác dụng thanh nhiệt lương huyết thành thục địa vị ngọt tính ôn tác dụng bổ âm, bổ huyết.
  • Tăng hiệu lực trị bệnh, chẳng hạn để tăng tác dụng bổ thận của Hà thủ ô thì chế biến với nước đậu đen.
  • Giảm độc tính của vị thuốc
  • Giảm tác dụng phụ không mong muốn, chẳng hạn hà thủ ô đỏ chứa tannin, antranoid gây táo bón và đại tiện nhiều, ngâm hà thủ vào nước vo gạo thì 2 chất này đều giảm
  • Thay đổi tính vị của thuốc, từ đó thay đổi tác dụng của thuốc
  • ổn định tác dụng của thuốc, phương pháp sao, sấy khô thuốc ở nhiệt độ thấp 50 – 70 độ làm giảm độ ẩm của thuốc, tránh sự phân hủy thành phần hoạt chất, ví dụ hoa hòe sao qua có thể hạn chế sự phân hủy rutin
  • giảm tính bền vững cơ học, tăng  khả năng giải phóng hoạt chất  vì    thế có thể làm tăng hiệu lực của thuốc
  • phân chia thuốc thành kích thước phù hợp, thuận tiện cho việc sử dụng.

 2. CHẾ BIẾN

Có 2 giai đoạn: Sơ Chế và Bào Chế.

A- SƠ CHẾ

Để bảo quản dược liệu sau khi thu hoạch, cần sơ chế ngay. Mỗi loại dược liệu có cách sơ chế riêng (xem chi tiết trong từng vị thuốc).

+ Các loại lá:

Nên phơi trong râm cho héo dần, không nên phơi nắng to sẽ làm cho thuốc khô giòn, vụn nát, bức xạ mặt trời sẽ phá hủy một số chất.

Trước khi phơi hoặc sấy, thường người ta dùng phép ‘diệt men phân hủy’ để giữ nguyên hoạt chất có trong lá. Thí dụ: vị thuốc Cam thảo dây, nếu thu hái xong mà phơi ngay thì lá biến thành mầu nâu xám, vị thuốc không ngọt, hoạt chất giảm đi, nhưng nếu chế biến bằng cách sao lá tươi trên chảo nóng bỏng, sau đó giảm dần lửa cho đến khi khô hẳn thì lá Cam thảo dây vẫn giữ nguyên mầu xanh lục và vị ngọt đậm vì chất Glyxyrizin không bị phá hủy đi.

+ Các loại thân cây có nhựa khô như Thạch hộc, nên luộc sơ qua rồi phơi nắng to cho khô

+ Các loại củ, phải sấy từ từ, lúc đầu nhiệt độ khoảng 40 – 500C, sau tăng dần lên 70 – 800C, để tránh tình trạng bên ngoài vỏ đã khô mà trong ruột còn ướt.

B- BÀO CHẾ

* THÁI, BÀO

Dùng dao cắt dược liệu thành những miếng mỏng. Hoặc dùng máy thái dược liệu, ưu điểm dùng máy là nhanh, phiến thuốc đều và đẹp, các loại cây, dây, củ to chắc đều dùng máy thái.

Đa số các nhà thuốc đều mua loại dao chế sẵn, tùy theo yêu cầu dược liệu, gọi là Dao Cầu, Dao Bào hoặc Dao Thái.

+ Dao Cầu: Bản dao to hơn, thường dùng thái các dược liệu to và cứng.

+ Dao Bào: có hình dáng giống chiếc bào gỗ của thợ mộc, thường dùng để cắt những dược liệu đã được ủ mềm cho đều và không bị nát vụn như Đương quy, Thương truật, Xuyên khung…

+ Dao Thái: Loại dao sắc để cắt dược liệu nhỏ, mềm như lá: Bạc hà, Kinh giới…

* TÁN

Làm cho dược liệu trở thành dạng bột nhuyễn, mịn.

Có thể dùng hai cách sau:

+ Tán bằng Chầy và Cối:

– Cối có nhiều loại: bằng gỗ, bằng đá, bằng đồng, bằng sắt… Hiện nay có nhiều nơi chế bằng nhựa cứng. Nên lựa loại có lòng sâu để chứa được nhiều thuốc và đỡ bắn thuốc ra ngoài.

– Chầy có thể bằng gỗ hoặc bằng nhựa. Nhiều nơi bọc đầu chầy bằng một miếng đồng để tăng sức giã nát thuốc. Ở thân của chầy, nên làm một miếng che bằng da để chế thuốc khỏi bắn ra ngoài mỗi khi chầy nện xuống cối thuốc.

Cho dược liệu vừa đủ vào cối, nhiều quá thì thuốc khó giã mà dễ bị bắn ra ngoài; Nếu thuốc ít quá, chầy có thể đập mạnh vào lòng cối, dễ gây vỡ cối…

Nếu dược liệu thuộc loại mềm, nếu giã sẽ làm cho thuốc dính lại thành tảng. Trường hợp này nên dùng cách nghiền: Không nhấc cao chầy ra khỏi cối mà đưa đầu chầy xoay thành vòng tròn, ép mạnh dược liệu vào thành cối cho nát.

+ Tán bằng Thuyền Tán: Nếu dược liệu cứng, khó cắt, cần nghiền nát với số lượng lớn thì nên dùng Thuyền tán. Thuyền tán đa số làm bằng gang, giống hình một chiếc thuyền. Khi cần tán, cho dược liệu vào lòng thuyền (sau khi đã cắt nhỏ hoặc sao khô), dùng một bánh xe cũng bằng gang có cạnh sắc lăn qua, lăn lại cho đến khi dược liệu bị phân chia nhỏ ra.

Hiện nay, có thể dùng máy tán vừa nhanh vừa đỡ mất sức mà dược liệu đạt độ mịn hơn.

* RÂY

Sau khi đã tán dược liệu thành bột, tùy yêu cầu chế biến mà dùng các loại rây khác nhau để tạo nên bột có độ mịn khác nhau.

+ Nếu làm thành bột uống thì càng mịn càng tốt cho dễ uống.

+ Nếu dùng để chế thành viên hoặc hoàn tễ thì không cần mịn lắm cũng được..

* SAO

– Sao là phương pháp dùng hơi nóng của lửa làm cho thuốc khô, sém vàng hoặc cháy đen. Mục đích để thay đổi tính năng của thuốc theo ý muốn của người dùng.

– Dụng cụ để sao: thường là chảo bằng gang hoặc nồi bằng đất và một đôi đũa to để đảo thuốc.

– Có nhiều cách sao thường dùng:

+ Sao vàng: Sao cho đến khi vị thuốc bên ngoài có mầu vàng nhưng trong ruột vẫn còn mầu như cũ. Khi sao, để lửa nhỏ, thời gian sao lâu. Mục đích để cho thuốc bớt tính hàn.

+ Sao vàng hạ thổ: Quét sạch đất, sau khi sao thuốc xong, đổ trải thuốc ra nền đất sạch, đậy lại, để khoảng 15 phút cho thuốc nguội. Mục đích để khử hỏa độc do sao nóng của vị thuốc, làm cho thuốc tăng thêm phần âm của đất để điều hòa âm dương (khí của đất là âm, khí của hỏa nhiệt khi sao thuốc là dương).

+ Sao vàng xém cạnh: Sao làm cách nào để mặt ngoài thuốc hơi vàng xém nhưng bên trong ruột không thay đổi mầu. Cách sao này thường dùng đối với vị thuốc quá chua, chát như Hạt cau, Trần bì, Chỉ thực…

+ Sao đen: Dùng lửa to, dợi khi chảo thật nóng thì cho thuốc vào, đảo đều cho đến khi thấy bên ngoài cháy đen, bẻ ra thấy bên trong mầu vàng là được. Thường dùng để sao Toan táo nhân, Chi tử, Kinh giới… Nhằm mục đích tăng tác dụng cầm máu hoặc tiêu thực của vị thuốc.

+ Sao tồn tính: Sao cho gần cháy hết nhưng chưa thành than. Dùng lửa to, để cho chảo thật nóng, cho thuốc vào đảo đều cho đến khi thấy khói bốc lên nhiều, bắc chảo xuống, đậy nắp lại cho hơi nóng nung nấu thuốc rồi để nguội dùng. Thường dùng để tăng tác dụng cầm máu của thuốc như Trắc bá diệp, Cỏ mực…

+ Sao với cát: Chọn loại cát nhỏ, mịn, rang cho nóng rồi mới cho thuốc vào, trộn cho thật đều. Mục đích sao với cát là để lấy sức nóng lâu của cát làm cho thuốc càng, phồng đều nhưng không cháy. Thường dùng sao các vị Xuyên sơn giáp, Phá cố chỉ…

+ Sao với bột Hoạt thạch, Cáp phấn: để làm cho các vị thuốc có độ dẻo, có chất keo, chất nhựa, dầu… không dính vào nhau như A giao, Một dược, Nhũ hương…

+ Sao với cám: để rút bớt tinh dầu của vị thuốc ra như Chỉ thực, Thương truật, Trần bì…

* TẨM

Mục đích là làm cho một chất lỏng khác thấm vào được thuốc.

Các chất lỏng dùng để tẩm thường là Rượu, Giấm, nước Muối, nước cốt Gừng, Đồng tiện (nước tiểu trẻ nhỏ)…. Thời gian ngâm từ 2 – 4 giờ hoặc có khi phải ngâm qua đêm, ngâm mấy ngày… tùy yêu cầu của từng vị thuốc. Sau đó lại sao cho khô.

Trung bình, cứ 1kg thuốc ngâm với 50 – 200ml.

+ Tẩm Rượu:

– Dùng rượu 30 – 400, trộn với thuốc, ngâm khoảng 2-3 giờ rồi sao vàng.

– Mục đích để giảm bớt tính hàn của thuốc, tăng thêm độ ấm.

– Rượu có tác dụng bốc và dẫn nhanh, vì vậy giúp cho thuốc đi nhanh ra các bộ phận cần dẫn thuốc đến.

+ Tẩm Nước Muối:

– Dùng nước muối 20%, ngâm chung với thuốc 2 – 3 giờ rồi sao vàng. Thường dùng muối với tỉ lệ 5% so với thuốc, để làm cho thuốc thêm mặn.

– Vị mặn là vị của Thận, vì thế muốn cho thuốc dẫn vào Thận, thì tẩm với nước muối.

+ Tẩm Giấm:

– Dùng 5% lượng Giấm ăn so với thuốc, ngâm ngập thuốc, để khoảng 1 – 2 giờ, đem sao.

– Vị chua đi vào kinh Can, vì vậy tẩm Giấm để dẫn thuốc đi vào Can.

+ Tẩm Đồng Tiện

– Dùng nước tiểu của trẻ nhỏ khỏe mạnh (lượng dùng là 5% so với thuốc), ngâm với thuốc từ 12 – 48 giờ rồi sao vàng.

– Tẩm nước tiểu để dẫn thuốc vào phần huyết và giáng hỏa.

+ Tẩm Nước Cốt Gừng

– Dùng Gừng tươi (Sinh khương) rửa sạch, giã nát, cho váo ít nước, vắt lấy nước cốt, ngâm với thuốc khoảng 1 giờ rồi sao vàng. Lượng nước cốt Gừng dùng theo tỉ lệ 5 – 15% so với thuốc, tức là 50g – 150g Gừng tươi cho 1kg thuốc.

– Gừng có tính ôn ấm, kích thích tiêu hóa, vì vậy, tẩm vào thuốc sẽ giúp cho thuốc đó bớt hàn, tăng tác dụng kiện Tỳ, hòa Vị, kích thích tiêu hóa.

+ Tẩm Mật

Theo các tài liệu cổ thường là tẩm Mật Ong, nhưng hiện nay, đa số là tẩm Mật Mía. Thường pha một phần mật với một phần nước cho loãng rồi ngâm với thuốc khoảng 4 – 6 giờ. Mục đích tẩm Mật để giảm bớt vị đắng, chát của thuốc.

Vị ngọt đi vào Tỳ, vì vậy muốn tăng tác dụng kiện Tỳ của vị thuốc thì tẩm với mật.

+ Tẩm Nước Đậu Đen

Dùng 100g Đậu đen cho một lít nước, đun sôi một giờ, gạn lấy nước, ngâm với thuốc. Thường theo tỉ lệ 10 – 20% so với thuốc. Tẩm nước Đậu đen thường tăng ác dụng bổ Can Thận

+ Tẩm Nước Cam Thảo

Dùng 100g Cam thảo cho một lít nước, nấu sôi một giờ, gạn lấy nước, ngâm với thuốc, theo tỉ lệ 10 – 20 % so với thuốc.

Mục đích để giảm bớt độc tính của thuốc, làm cho thuốc êm dịu, đỡ chát.

+ Tẩm Nước Gạo

Dùng nước gạo đặc mới vo, ngâm với thuốc theo tỉ lệ 5 – 10%, để qua đêm, rồi sấy khô.

Mục đích để làm cho thuốc bớt tính ráo, nóng hoặc giảm bớt độc.

+ Tẩm Hoàng Thổ

Dùng 100g đất sét vàng (Hoàng thổ) cho vào 1 lít nước, đun sôi, khuấy đều. Gạn bỏ nước phía trên, chỉ lấy nước ở giữa, bỏ căn, tẩm với thuốc theo tỉ lệ 40 – 50%, để 2 –3 giờ rồi đem sao vàng.

Dùng Hoàng thổ sao để hút bớt tinh dầu có trong một số vị thuốc như Bạch truật, làm cho thuốc bớt tính ráo, nóng.

Mầu vàng là mầu của Tỳ, vì vậy, sao với Hoàng thổ để dẫn thuốc vào Tỳ, tăng tác dụng kiện Tỳ cho vị thuốc.

+ Tẩm Sữa

Ngày xưa thường dùng sữa người (Nhân nhũ) và phải là loại sữa của người mới sinh làn đầu (gọi là sữa con so), hiện nay có thể dùng sữa bò (nguyên chất chứ không phải loại sữa đặc có đường đã pha chế), dùng một nửa sữa, nửa nước để tẩm vào dược liệu, để khoảng 1-2 giờ rồi sao vàng. Mục đích tẩm Sữa để làm bớt tính khô ráo của vị thuốc. Ngày xưa dùng sữa người theo ý sữa là tinh huyết, tẩm vào thuốc để tăng tác dụng bổ huyết

* Ủ

Dùng lượng nước ít phun hoặc rắc cho thấm đều dược liệu rồi dùng vải ướt hoặc bao tải đậy kín vài giờ hoặc vài ngày cho dược liệu mềm ra cho dễ thái và chế biến, hoặc giúp cho dược liệu lên men… Phương pháp này dùng cho các loại không thể ngâm lâu vì sợ mất hoạt chất như Ô dược, Tỳ giải, Thổ phục linh…

Có một số dược liệu trước khi phơi cần phải ủ cho dược liệu lên men, có mầu đẹp như Ngưu tất, Đương quy, Huyền sâm…

* THỦY PHI

Là phương pháp tán, nghiền thuốc ở trong dạng nước với mục đích lọc lấy bột thật mịn, loại bỏ được một số tạp chất.

Cho bột thuốc vào vào cối lớn rồi cho nước vào ngập thuốc khoảng 3 – 5cm, khuấy đều, vớt bỏ những tạp chất nổi trên mặt nước đi, rồi vừa khuấy nhẹ vừa gạn thuốc sang bình đựng khác, còn cặn bỏ đi. Để cho nước lắng xuống, gạn bỏ nước, lấy chất lắng đem phơi hoặc sấy khô. Thường dùng để lọc các chất Long cốt, Ngũ linh chi, Chu sa, Thần sa…

* THỦY BÀO

Nấu nước sôi kỹ, để cho thuốc hơi hạ nhiệt xuống, còn khoảng 60 – 700, cho thuốc vào quấy nhẹ liên tục cho đến khi nước nguội. Làm như vậy 2 – 3 lần.

Mục đích của thủy bào là làm giảm bớt tính mạnh của vị thuốc hoặc làm cho vị thuốc mềm, dễ cắt hoặc dễ bóc vỏ.

Thí dụ: Thủy bào Bán hạ cho bớt chất độc; Thủy bào Hạnh nhân, Đào nhân để dễ bóc vỏ…

* CHÍCH

Dùng mật tẩm dược liệu xong đem nướng (chích) cho đến khi thấy khô, thơm là được. Mục đích lấy vị ngọt của mật làm tăng tác dụng kiện Tỳ của vị thuốc. Thí dụ: Chích Hoàng kỳ, Chích Cam thảo…

* ĐỐT

Thường dùng cồn đốt rồi đem vị thuốc hơ lên lửa cho cháy lông, hơi rượu bốc lên thấm vào thuốc làm cho thuốc có mùi thơm hơn, bớt tanh và bảo quản được lâu. Nhung Hươu, Nai… thường dùng cách đốt này.

* LÙI

Khi tro bếp đang nóng, đặt vị thuốc vào trong đó để láy sức nóng của tro làm cho thuốc chín. Khi áp dụng phương pháp này, thường dùng giấy bản ướt hoặc lấy Cám ướt bọc bên ngoài vị thuốc, đến khi giấy hoặc cám khô hẳn là được. Mục đích là tăng thêm tính ấm của vị thuốc đó. Thí dụ như Gừng, Cam thảo, Mộc hương…

* NUNG

Dùng nhiệt độ cao để đốt trực tiếp vị thuốc đó cho chảy hoặc dễ tán thành bột. Thí dụ như Phèn chua (nung cho chảy ra, gọi là Phèn phi), Mẫu lệ, Thạch cao thường là nung cho đỏ để dễ tán thành bột.

* SẮC

Cho thuốc vào nồi đất (siêu) hoặc dụng cụ để nấu… cho nước theo yêu cầu (thường là 4 chén nước), đun sôi nhẹ một thời gian cho thuốc thấm ra hết, chiết lấy nước để dùng như thang thuốc sắc vẫn thường dùng.

* NGÂM

Dùng một chất khác (nước, nước muối, Đồng tiện, rượu…) ngâm với vị thuốc muốn dùng để làm cho thuốc mềm hơn, giảm trừ bớt độc tính của thuốc hoặc tăng tác dụng khác cho vị thuốc đó.

Thí dụ:

+ Bán hạ ngâm nước Gừng để giảm bớt độc tính của thuốc.

+ Đỗ trọng ngâm nước muối để tăng tác dụng bổ Thận.

+ Hậu phác ngâm nước Gừng để tăngtác dụng tiêu thực…

* HÃM

Dùng nước đang sôi rót vào dược liệu rồi đậy kín lại cho thuốc thấm ra trong thời gian theo yêu cầu từng vị thuốc. Phương pháp này dùng cho các vị thuốc mềm như hoa, lá non, rễ nhỏ… Thường dùng dưới dạng chế biến thành chè để uống.

* ĐỒ

Dùng hơi nóng của nước làm cho vị thuốc mềm ra, dễ thái. Thường dùng đối với các vị thuốc mà nếu ngâm sẽ làm mất hoạt chất của thuốc đi như Hoài sơn, Phục linh…

* CHƯNG

Chế biến thuốc bằng cách nấu cách thủy, lấy hơi của dung dịch chế biến làm cho chất thuốc thay đổi. Thí dụ: Dùng rượu và Sa nhân chưng Sinh địa…

Cách thực hiện: Cho thuốc vào thùng, đặt vào một thùng khác to hơn (đã chứa ½ thùng nước), đậy nắp lại. Nấu sôi trong 24 giờ, khi nước cạn lại đổ thêm nước vào nấu. Ngày hôm sau, lấy vị thuốc ra, phơi hoặc sấy khô rồi lại tiếp tục chưng và phơi như trên đủ 9 lần, gọi là ‘Cửu chưng cửu sái’. Lúc đó, vị Sinh địa sẽ biến thành Thục địa.

* XÔNG

Mục đích xông làm cho thuốc khô, chống mọt, để được lâu.

Có thể xông bằng Diêm sinh (Lưu huỳnh). Thí dụ: Bạch chỉ, Hoài sơn xông bằng Lưu huỳnh sẽ có mầu trắng tinh; Ngưu tất xông Lưu huỳnh và ủ kỹ sẽ có mầu hồng trong…

Những điểm cần lưu ý khi xông bằng Diêm sinh:

– Khi sấy bằng Diêm sinh cần tính toán lượng Diêm sinh cho phù hợp với lượng thuốc cần xông.

Có thể theo cách sau:

+ Những lần sấy đầu: cứ 100kg thuốc, dùng 0,800g – 1,2kg Diêm sinh, đốt làm hai lần.

+ Những lần xông định kỳ để Bảo quản: cứ 100kg thuốc dùng 0,100 – 0,150kg Diêm sinh.

– Khi sấy bằng Diêm sinh, nên xếp thuốc thành từng lớp ngang, dọc khác nhau để cho hơi của Diêm sinh tỏa thấm đều tất cả thuốc.

– Hơi Diêm sinh bốc lên có độc, vì vậy chỗ sấy phải làm nơi thoáng. Lò sấy phải kín.

– Sau khi xông xong, phải mở cửa buồng sấy cho tỏa bớt hơi Diêm sinh đi rồi mới lấy dược liệu ra để tránh bị ngộ độc, nghẹt thở do hơi độc của Diêm sinh.

– Vị Cam thảo bắc không bao giờ được sấy bằng Diêm sinh.

* Một vài lưu ý khi chế biến thuốc:

+ Để ý phòng cháy nhất là những khâu sao thuốc. Nếu sơ ý sẽ dễ cháy thuốc lẫn vật dụng chung quanh.

+ Nếu xông thuốc, cần đeo khẩu trang tránh hơi độc của Diêm sinh hoặc Luu huỳnh bốc lên.

+ Một vài dược liệu có chất ăn da, khi rửa, nên để ở dưới vòi nước chảy. Thí dụ:

– Bạch chỉ nếu rửa vào chậu nước trong nhiều giờ chất Acid Angelic sẽ làm phồng và loét da tay.

– Bán hạ, Thiên niên kiện nếu rửa lâu sẽ gây dị ứng lở ngứa da.