CÂY BỒ CÔNG ANH

SALE cay-bo-cong-anh

+ Chữa bệnh ăn uống kém tiêu.

+ Chữa sưng vú, tắc tia sữa.

+ Chữa hay bị mụn nhọt.

+ Chữa đau dạ dày.

+ Có thể dùng cây bồ công anh hoặc rễ bồ công anh để làm thuốc

Sản phẩm được phơi sấy khô và bảo quản trong môi trường thích hợp

Bán buôn, bán lẻ toàn quốc. Đơn vị (kg)

200,000 150,000

Tên bồ công anh được dùng để chỉ ít nhất 2 cây khác nhau đều có mọc ở nước ta, cần chú ý tránh nhầm lẫn:

1. Cây bồ công anh Việt Nam Lactuca indica L. Họ Cúc (Asteraceae). Chữ “Việt Nam’’là chúng tôi mới thêm để tránh nhầm lẫn. Cây này được dùng phổ biến, nhất là tại phía Bắc và phía bắc Trung Bộ.

2. Cây bồ công anh Trung Quốc Taraxacum officinale Wigg, cũng họ Cúc (Asteraceae). Chữ “Trung Quốc” chúng tôi cũng mới thêm vào để chi rõ rằng tên bồ công anh ghi trong các sách trung quốc là cây này.

CÂY BỒ CÔNG ANH VIỆT NAM

Còn gọi là bồ công anh, rau bồ cóc, diếp hoang, diếp dại, mót mét, mũi mác, diếp trời, rau mũi cày. Tên khoa học Lactuca indica L. Thuộc họ Cúc Asteraceae.

Mô tả thực vật

Bồ công anh là một cây nhỏ, cao 0,6m đến lm, có thể cao tới 3m. Thân mọc thẳng, nhãn, không cành hoặc rất ít cành.

Lá có nhiều hình dạng; lá phía dưới dài 30cm, rộng 5 cm gần như không cuống, chia thành nhiều thùy hay răng cưa thưa, lá phía trên ngắn hơn, nguyên chứ không chia thùy, mép có răng cưa thưa. Bấm lá và thân đều thấy tiết ra nhũ dịch màu trắng đục như sữa, vị hơi đắng.

Cụm hoa hình đầu, màu vàng, có loại tím. Có người gọi cây hoa vàng là Hoàng hoa địa đinh và loại hoa tím là Tử hoa địa đinh (tử là màu tím). Cả hai loại đều được dùng làm thuốc.

Phân bố, thu hái và chế biến

Bồ công anh mọc hoang tại nhiều tinh miền bắc nước ta, ít thấy trồng. Việc trồng rất dễ dàng bằng hạt. Mùa trồng vào các tháng 3-4 hoặc 9- 10. Có thể trồng bằng mẩu gốc, sau 4 tháng có thể bắt đẩu thu hoạch.

Thường nhân dân ta dùng lá, lá hái về dùng tuơi hay phơi hoặc sấy khô dùng dần. Thường hay dùng tươi. Không phải chế biến gì đặc biệt. Một số người hái cả cây, cả rễ cắt nhỏ phơi khô để dùng.

Thành phần hóa học

Chưa thấy tài liệu nghiên cứu về cây Lactuca indica L. của ta, theo những tài liệu nước ngoài, tại một số nước người ta có sử dụng và nghiên cứu một số loài Lactuca khác như Lactuca virosa, Lactuca sativa L. (rau diếp của ta ăn) thấy trong có latuxerin là một ete axetic của hai thứ rượu nhị no lactuxerola α,β ngoài ra còn 3 chất đắng có tên axit lacturic, lactucopicrin và lactuxin. Lactucopicnn là este p. hydroxy phenylacetic của lactuxin.

TÁC DỤNG VÀ CÁCH DÙNG

Bồ công anh Việt Nam là một vị thuốc kinh nghiệm trong nhân dân để chữa bệnh sung vú, tắc tia sữa, mụn nhọt đang sưng mù, hay bị mụn nhọt, đinh râu.

Còn dùng uống trong chữa bệnh đau dạ dày, ăn uống kém tiêu.

Liều dùng hàng ngày: 20 đến 40g lá tươi hoặc 10 dến 15g lá khô hay cành và lá khô. Dùng riêng hoặc phối hợp với các vị thuốc khác, thường dùng dưới dạng thuốc sắc có thêm đường cho để uống. Còn dùng giã nát đắp ngoài không kể liều luợng.

Đơn thuốc dân gian có vị Bồ Công Anh

+ Chữa sưng vú, tắc tia sữa: Hái 20 đến 40g lá bồ công anh tươi, rửa sạch, thêm ít muối giã nát, vắt lấy nước uống, bã dùng đắp lên nơi vú sưng đau. Thường chỉ dùng 2-3 lần là đỡ (kinh nghiệm dân gian).

+ Chữa ăn uống kém tiêu, hay bị mụn nhọt: Lá bồ công anh khô 10 đến 15g; nước 600ml (3 bát), sắc còn 200ml ( 1bát) (có thể đun sôi kỹ và giữ sôi trong vòng 15 phút). Uống liên rục trong 3-5 ngày, có thể kéo dài hơn.

+ Đơn thuốc chữa đau dạ dày: Lá bồ công anh khô 20g, lá khôi 15g, lá khổ sâm l0g. Thêm 300ml nước, sắc đun sôi trong vòng 15 phút, thêm ít đường vào mà uống (chia 3 lần uống uống ngày). Uống liên tục trong vòng 10 ngày, nghỉ 3 ngày rồi lại tiếp tục cho đến khi khỏi.

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY BỒ CÔNG ANH”