CÂY CỎ NHỌ NỒI

cay-nho-noi

160,000

Định danh khoa học

Còn có tên là cây cỏ mực, hạn liên thảo

Tên khoa học Eclipta alba Hassk (Eclipta erecta Lamk)Thuộc họ Cúc Asteraceae (Compositae)

Ta dùng toàn cây nhọ nồi (Herba Ecliptae) tươi hoặc khô.

A. Mô tả cây

Cỏ nhọ nồi là một loài cỏ mọc thẳng đứng có thể cao tới 80cm, thân có lông cứng. lá mọc đối có lông ở hai mặt, dài 2-8cm, rộng 5-15mm. Cụm hoa hình đầu màu trắng ở kẽ lá hoặc đầu cành, lá bắc thon dài 5-6mm, cũng có lông.

Quả bế 3 cạnh, hoặt dẹt, có cánh. Dài 3mm, rộng 1,5mm, đầu cụt. mọc hoang khắp nơi ở nước ta.

B. Thành phần hoá học

Theo các nhà nghiên cứu trước, trong nhọ nồi có một ít tinh dầu, tannin, chất đắng, carotene và chất ancaloit gọi là ecliptin. Có sách nói chất ancaloit là nicotin.

Năm 1959 Govindachari T.R và đồng sự đã chiết được từ cỏ nhọ nồi một chất wedelolacton là một cumarin lacton. Sau đó tác giả cũng thấy chất này trong cây sài đất (công thức wedelolacton, xem ở cây sài đất).

Ngoài wedelolacton, năm 1972 K.K Bharagava (Ind.J.Chem 8,72:810) còn tách được demetyl wedelolacton và một flavonozit chưa xác định

TÁC DỤNG VÀ CÁCH DÙNG

Năm 1961 Viện dược liệu và Bộ môn dược lý Trường đại học y dược Hà nội có nghiên cứu tác dụng cầm máu và độc tính của cỏ nhọ nồi đã đi đến kết luận sau:

1. Về tác dụng cầm máu

Nước sắc cỏ nhọ nồi khô, với liều 3g/kg thể trọng trên khỉ có tác dụng làm giảm thời gian Quick rõ rệt nghĩa là làm tăng tỷ lệ prothrombin toàn phần. Nhọ nồi cũng như vitamin K có tác dụng chống lại tác dụng của dicuramin

Nhọ nồi làm tăng trương lực của tử cung cô lập. trường hợp chảy máu tử cung, nếu dùng nhọ nồi thì ngoài tác dụng làm tăng prothrombin, còn có thể làm nén thành tử cung. Góp phần thúc đẩy việc chống chảy máu

Cỏ nhọ nồi không gây tăng huyết áp

Cỏ nhọ nồi không làm dãn mạch

2. Về độc tính của cỏ nhọ nồi

Thử trên chuột bạch với liều từ 5-80 lần liều lâm sang không có triệu chứng độc. Theo dõi trên lâm sang, bệnh viên Ninh giang (1961) đã cho 3 bệnh nhân (hai có thai 3-4 tháng, 1 không có thai bị ra huyết) uống 3-6 ngày mỗi ngày 20g cỏ nhọ nồi khô chế thành thuốc sắc. sau 1-2 ngày đỡ ra huyết, sau 3-6 ngày khỏi và ra viện

Công dụng và liều dùng

Tính vị theo tài liệu cô: vị ngọt, chua tính lương vào hai kinh can và thận, tác dụng bổ thận âm, chỉ huyết lỵ. Dùng chữa can thận âm kém, lỵ và ỉa ra máu, làm đen râu tóc

Nhân dân vẫn dùng cây nhọ nồi giã vắt lấy nước uống để cầm máu trong rong kinh, trĩ ra máu, bị thương chảy máu. Còn dùng chữa ho hen, ho lao, viêm cổ họng. ngày dùng 6-12g dưới dạng sắc uống hay làm thành viên mà uống. những người thợ nề dùng cỏ nhọ nồi để xoa tay chữa bệnh bỏng rát do vôi. Có người dùng chữa bệnh nấm ở ngoài da, làm thuốc mọc tóc (sắc uống hoặc ngâm vào dầu dừa mà bôi), nhuộm tóc, bôi lên những chỗ trổ ở da thịt để có màu tím đen.

Một vài bài thuốc ứng dụng:

Rong kinh:

Nếu nhẹ, lấy cỏ nhọ nồi tươi giã vắt lấy nước cốt uống hoặc cỏ nhọ nồi khô sắc nước uống. Nếu huyết ra nhiều, cần phối hợp thêm trắc bá diệp hoặc cây huyết dụ…

Chữa phụ nữ chảy máu tử cung:

Cỏ nhọ nồi 15g, lá trắc bá diệp 15g. Sắc uống ngày 1 thang, uống liền 7 ngày

Chữa đái ra máu:

Cỏ nhọ nồi 30g, cả cây mã đề 30g. Cả hai thứ còn tươi rửa sạch, giã, ép lấy nước uống (hoặc say bằng máy sinh tố), còn chữa cảm sốt nóng, ho, viêm họng.

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY CỎ NHỌ NỒI”