CÂY LẠC TIÊN

cay-lac-tien

100,000

Định danh khoa học

Còn gọi là cây lạc, cây nhãn lồng (Nam Bộ), lồng đèn, hồng tiên, long châu quả, mắc mát (Đà Lạt).

Tên khoa học Passiflora foetida L.

Thuộc họ Lạc tiên Passifloraceae.

A. Mô tả thực vật

Lạc tiên là một loại dây mọc leo, thân mềm, trên có rất nhiêu lông mềm. Lá mềm, mọc so le, hình tim, dài 6-10cm, rộng 5-8cm, mép lượn sóng và xẻ hơi sâu thành 3 thuỳ, đáy lá hình tim, mép lá có lông mịn, cuống lá dài 7-8cm. Đầu tua cuống thành lò xo.

Hoa đơn độc, 5 cánh màu trắng hay hơi tím nhạt, đường kính 5,5cm lá đài màu trắng phía dưới có gân xanh, duới lá đài có 3 gân chính với những gân phụ trông như lá mà không có phiến chỉ có gân lá không thôi. Một đĩa có 2 tầng tua, mặt tua trên có màu tím trong vàng, trong cùng có lông mịn. Trụ cao có đầu tim đỏ, 5 nhị có bao phấn màu vàng gục xuống dưới. Quả hình trứng dài 2-3cm. Mùa hoa 4- 5, mùa quả 5-7 .

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang ở khắp nơi tại nước ta. Thường trẻ con vẫn hái quả ăn. Trước đây hầu như nhân dân ta không dùng cây này làm thuốc.

Từ năm 1940, một dược sĩ Việt Nam từ Pháp về thấy cây này hơi giống Passiflora ở bên Pháp mà tại Pháp người ta dùng cây đó làm thuốc an thần nên đã dùng cây lạc tiên của ta chế thành thuốc làm thuốc an thần. Từ đó ta quen dùng, chứ chưa ai kiểm tra theo dõi tác dụng đến đâu. Hái toàn cây trừ rễ,dùng tươi hay phơi khô mà chế thuốc sắc hay pha rượu thuốc. Không chế biến gì đặc biệt. Chưa ai đặt vấn đề trồng.

C. Thành phần hoá học

Cây lạc tiên chứa 0,025-0,032% alcaloit toàn phần trong đó có hermalin, harmalol, harmol, harmin. Có các flavonc-glucosid như sapomarin, vitexin, saporanetin.

Hoạt chất chính có tên passiflorin, tác dụng tương tự như morphin nhưng không gây nghiện. Quả chín còn chứa 2% protein, đường đơn, glucoza, fructoza, các acid hữu cơ: acid citric, acid malic; có vitamin: C, A và một số muối khoáng.

TÁC DỤNG VÀ CÁCH DÙNG

1.  Cây lạc tiên chữa mất ngủ

Đơn giản nhất bạn chỉ cần sắc 20 – 40g lạc tiên khô, rồi sắc uống trước khi đi ngủ.

Dùng dây, lá lạc tiên 20g, hạt sen 12g, lá vông nem 12g, lá tre 10g, lá dâu tằm 10g, cam thảo 6g, táo nhân (sao đen) 10g, xương bồ 6g.

Hoặc dùng cây lạc tiên, lá Vông, hạt muỗng sao, lá dâu mỗi loại 15 – 20g  hãm uống thay nước trà hằng ngày.

Ngoài ra có thể dùng pha chung với trà để uống

2. Cây lạc tiên chữa hồi hộp, loạn nhịp, lo âu, đau đầu, choáng váng:

Cây lạc tiên, lá dâu, lá sen, lá vông mỗi loại 20g, tim sen 4g. Uống 2-3 tuần, tới khi các triệu chứng thuyên giảm.

3. Cây lạc tiên trị stress dai dẳng, mệt mỏi cơ thể:

300g lạc tiên khô + 100g rau má (sao khử thổ vừa héo) + 200g râu bắp đã rửa sạch, sắc chung với 500 ml nước và pha thêm một ít muối hạt, sắc còn lại 200 ml nước, uống 2 lần/ngày vào buổi trưa và tối. Liên tục 7 ngày sẽ an thần, chống stress.

4. Cây lạc tiên chữa huyết áp thấp, người cao tuổi khó ngủ, đau nhức; phụ nữ hành kinh sớm hoặc phụ nữ sau mãn kinh

500g lạc tiên khô, 100g lá mướp đắng non, 300g hoa thiên lý. Tất cả sao khử thổ, tán nhuyễn dạng bột, cho thêm 50g đậu xanh để luôn vỏ, sau đó rang chín rồi cũng tán nhuyễn.

Mỗi ngày pha 3 muỗng canh vào 100 ml nước sôi để nguội, uống mỗi khi khát. Sau 10 ngày sẽ có kết quả.

Đơn thuốc có lạc tiên

Thuốc chữa hồi hộp, bồn chồn, mất ngủ: Cao lạc tiên: Cây lạc tiên 50g, lá vông 30g, lá dâu tằm l0g, liên tâm 2,2g, đường 90g, nước vừa đủ 100ml, axit benzoic để bảo quản và cồn vừa đủ để hoà tan axit benzoic. Ngày dùng 2-4 thìa to, trẻ em 1-2 thìa cà phê. Uống trước khi đi ngủ làm thuốc an thần, gây ngủ, chữa hồi hộp bồn chồn.

Chú thích:

Tại các nước châu Âu, người ta dùng 2 loại lạc tiên khác tên là cây lạc tiên Passiflora coerulea L. có phiến lá chia thành 5 thuỳ cắt sâu, hoa mọc đơn độc màu xanh, quả màu lục, khi chín chuyển sang màu vàng cam. Cây thứ hai là lạc tiên Passiflora incarnata L. có phiến lá chia thành 3 thuỳ cắt sâu, thuỳ hình bầu dục, mép có răng cưa nhỏ-. Cây này được Dược điển Pháp chính thức công nhận làm thuốc. Trước kháng chiến, một vài nhà ở Hà Nội có trồng loại này. Tại Đà Lạt một số gia đình trồng cây này với tên Mắc mát làm cảnh và ăn quả. Chưa thấy dùng làm thuốc.

Hoạt chất của 2 cây cũng chưa rõ ràng. Chỉ biết trong cây Passiflora coerulea, Guignard (1906) đã thấy một hợp chất sinh axit xyanhydric với tỷ lệ 0,50g axit xyanhydric trong 1kg lá hay rễ; trong hoa tỷ lệ ít hơn, Dekker (1906) cũng thấy tỷ lệ axit prussic. Năm 1942, Plouvier thấy tỷ lệ axit xyanhydric trong lá tươi thay đổi từ 0,035 đến 0,076g. Ngoài ra, Plouvier còn phát hiện các diastaza, sucraza, amylaza, amygdalaza, 3 glucozidaza và một tỷ lệ canxi cao.

Trong cây Passiflora incarnata, nhập từ Angiê (Bắc châu Phi) Plouvier không phát hiện thấy axit xyanhydric mà chỉ thấy các gluxit (0,64g) và những heterozit không sinh axit xyanhydric. Nhưng nhiều tác giả khác lại thấy có heterozit sinh axit xyanhydroc. Năm 1940, Ruggy và Srnith tìm thấy một chất tan trong rượu có công thúc C16H2208N, có tác dụng dược lý.

Cây Passiflora coerulea được coi là một vị thuốc rất công hiệu làm dịu thần kinh, dùng dưới dạng cồn thuốc tươi [30(XX) đến 50(L) giọt một ngày) hay dạng cao lỏng (1 đến 3g một ngày).

Cây Passiflora coerulea được coi là một vị thuốc an thần, chống co thắt, chữa những trường hợp hồi hộp, mất ngủ, dộng kinh, suy nhược thần kinh, H.Leclerc (Pháp) còn cho rằng có tác dụng hạ huyết áp, giảm co bóp mạnh của cơ trơn ruột và tử cung. Dùng dưới dạng cồn thuốc tươi chế từ cây hái vào lúc đang ra hoa (30 đến 50 giọt một ngày) cao lỏng (l-5g) hay cồn thuốc (2-5g một ngày).

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY LẠC TIÊN”