CÂY CỎ MỘC TẶC

SALE cay-moc-tac

+ Chữa viêm kết mạc cấp (do phong nhiệt làm mắt sưng đỏ mờ).

+ Chữa phù trong viêm cầu thận cấp, phù cước khí.

+ Chữa chứng chảy máu.

+ Chữa băng huyết, rong huyết kéo dài hoặc đã mãn kinh mà còn rong huyết.

+ Chữa viêm gan, đái vàng thẫm, viêm thận, viêm bàng quang đái đỏ, hoặc đái ra sỏi.

+ Chữa đái ra cặn trắng.

150,000 125,000

Cỏ tháp bút còn gọi là tiết cốt thảo, mộc tặc thảo, bút đầu thái, dân tộc Thái gọi là” búa lọ phì mọi”. Tên khoa học là Equisetum arvense L, thuộc họ Mộc tặc Equiétaceae. Vị thuốc mộc tặc là toàn cây mộc tặc phơi khô. Vì cây có đốt lại giáp, dùng để đánh gỗ cho nhẵn, do đó có tên là mộc tặc( mộc là gỗ, tặc là giặc, giặc đối với gỗ.

Mô tả thực vật

Mộc tặc là loài cỏ sống lâu năm, thân rễ dài, có đốt nằm sâu dưới đất(60-80cm), xuất hiện lên mặt đất hai thứ cành: cành bất thụ và cành hữu thụ. Cành bất thụ xuất hiện sau và dài hơn cành hữu thụ, có thể dài đến 20 – 30 cm, chia thành từng dóng,mang ở mỗi mấu một vòng lá nhỏ hình sợi đính liền vào nhau tại phía gốc thành một thứ bẹ ôm lấy cành.

Cành có thể có nhiều nhánh con, những nhánh này cũng mọc từ các mấu. Các dóng của cành đều rỗng, chỉ ở ngang mấu thì dày, phía ngoài có nhiều dãnh dọc mỗi dãnh ứng với một lỗ khuyết trong phần vỏ. Cành hữu thụ( xuất hiện trước cành bất thụ vào mùa xuân) thường màu nâu không phân nhánh, mang nhiều vòng bào tử diệp xếp xít lại phía đầu cành thành một bông trông giống đầu nhọn bút lông.

Phân bố

Cây rất phổ biến ở châu Âu và các nước ôn đới, trong các đồng ruộng. Ở nước ta, cây mọc ở các chỗ ẩm ướt, núi cao, chỉ mới tìm thấy ở Sapa, tỉnh Lào Cai. Người ta thường thu hái các chồi màu lục (không sinh sản) vào cuối hè, rửa sạch, phơi khô.

Thành phần hóa học

Cây chứa một hỗn hợp alcaloid gọi là equisetin; nicotin, palustrin; một phytosterol; một saponoside là equisetonosid hay equisetonin; 3. heterosid flavonic; galuteosid (galuteolin), isoquercitrosid (isoquercitrin) equisetrosid. Còn có vitamin C, flavoxanthin, xanthophylle..

Dược liệu là nhiều đoạn thân và cành hình ống dài 7 – 15 cm, có khi tới 30 cm, đường kính 0,1 – 0,2 cm, màu nâu sẫm. Cành màu lục nhạt, hơi vàng hay xám tro, có nhiều rãnh dọc song song, mỗi rãnh này ứng với 1 lỗ khuyết trong phần vỏ.

Cành chia thành nhiều đốt. Mỗi mấu mang một vòng lá nhỏ, hình sợi màu nâu, dẹt ở gốc và dính liền nhau thành một bẹ màu lục nhạt, có răng cưa ôm lấy cành. Thường lá dạng sợi rụng đi chỉ còn bẹ. Ở mỗi mấu có nhiều nhánh con mọc vòng, gốc mỗi nhánh con có 1 bẹ hình ống ngắn, màu nâu. Chất giòn, dễ bẻ gẫy. Mặt ngoài cành sờ ráp tay do biểu bì có chất silic. Bẻ đôi cành thấy gióng rỗng, mấu gần đặc.

TÁC DỤNG VÀ LIỀU DÙNG

Theo Đông y, mộc tặc vị ngọt hơi đắng tính bình, vào 3 kinh phế, can và đảm, có tác dụng giải cơ, cầm máu , tan màng mắt. Trong nhân dân thường dùng mộc tặc làm thuốc lợi tiểu, thuốc cầm máu trong trường hợp chảy máu đường ruột, bệnh trĩ, đi tiểu ra máu, kinh nguyệt quá nhiều

Liều dùng mỗi ngày 5 – 15g dưới dạng thuốc sắc

Đơn thuốc có mộc tặc:

1. Chữa viêm kết mạc cấp (do phong nhiệt làm mắt sưng đỏ mờ): Mộc tặc 8g, Cúc hoa 12g, Bạch tật lê 12g, Quyết minh tử 12g, Phòng phong 8g, sắc nước uống. Bài này gia thêm Thương truật, Hạ khô thảo chữa viêm tuyến lệ cấp.

2. Chữa phù trong viêm cầu thận cấp, phù cước khí: Mộc tặc thảo 15g, Phù bình 10g, Đậu đỏ 100g, Hồng táo 5 quả, cho vào 600ml, sắc còn 200ml nước uống.

3. Chữa chứng chảy máu: Ngoài ra có người còn dùng Mộc tặc chữa chứng chảy máu do trĩ, chảy máu đường ruột, sa trực tràng, xích lỵ, mộng thịt ở mắt.

4. Chữa băng huyết, rong huyết kéo dài hoặc đã mãn kinh mà còn rong huyết: Mộc tặc 20g, sao sắc uống.

5. Chữa viêm gan, đái vàng thẫm, viêm thận, viêm bàng quang đái đỏ, hoặc đái ra sỏi: Mộc tặc, Mộc thông, Mã đề (hạt hay lá bông Mã đề), Sinh địa, Cỏ xước hay Ngưu tất, rễ cỏ Tranh, mỗi vị 15g, sắc và uống với bột Hoạt thạch 15g chia làm 3 lần.

6. Chữa đái ra cặn trắng: Mộc tặc, rễ Mía dò, mỗi vị 12g, sắc uống.

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY CỎ MỘC TẶC”