CÂY CỐT KHÍ

cay-cot-khi

+ Dùng chữa tê thấp, do bị ngã, bị thương mà tổn thương đau đớn;

+ Cầm máu.

+ Có tác dụng lợi tiểu, thông kinh, giảm đau giảm độc, 

Cốt khí củ được dùng làm thuốc như sau:

+ Trị các bệnh đau nhức gân xương cốt, đau gối, đau vai, lưng, và các khớp ngón tay, ngón chân.

+ Trị các bệnh đau bụng do bế kinh, đau bụng kinh nguyệt, sau đẻ huyết ứ.

+ Trị viêm gan cấp tính, xơ cứng động mạch, bệnh ho, hen suyễn và tăng huyết áp.

Sản phẩm được phơi sấy khô và bảo quản trong điều kiện thích hợp.

Bán buôn, bán lẻ toàn quốc. Đơn vị (kg)

200,000

Còn gọi là hoạt huyết đan, tử kim long, ban trượng căn, hổ trượng căn, điền thất (miền nam). Tên khoa học Reynoutria japonica Houtt. – Polygonum cuspidatum Sieb. et Zucc. Thuộc họ Rau răm Polygonaceae.

Củ cốt khí (Radix Polygoni cuspidaii) là rễ phơi hay sấy khô cùa cây củ cốt khí. Cần chú ý là chữ cốt khí còn dùng chỉ hạt và lá của nhiều cây khác thuộc họ Đậu.

Đặc biệt, qua cuộc điều tra nghiên cứu, chúng tôi chỉ thấy có cây này Rcynoutria japonica mang tên cốt khí lại thuộc họ Rau răm.

Mô tả thực vật

Cốt khí là một cây nhỏ sống lâu năm, thân mọc thẳng, thường cao 0,50-lm nhưng đặc biệt có nơi cao tới 2m. Thân không có lông, trên thân và cành thường có những đốm màu tím hồng. Lá mọc so le có cuống ngắn. Phiến lá hình trứng, rộng, đầu trên hơi thắt nhọn, phía cuống hoặc hơi phẳng hoặc hẹp lại, mép nguyên, dài 5-12cm, rộng 3,5-8cm, mặt trên màu xanh nâu đậm mặt dưới màu nhạt hơn. Cuống dài l-3cm. Bẹ chìa ngắn. Hoa mọc thành chùm ô kẽ lá, mang rất nhiều hoa nhỏ. Cánh hoa màu trắng. Hoa khác gốc. Hoa đực có 8 nhị: Hoa cái có bầu hình trứng với 3 cạnh, 3 núm. Quả khô, 3 cạnh, màu nâu đỏ.

Phân bố, thu hái và chế biến

Cây cốt khí mọc hoang ở nhiều nơi đặc biệt rất nhiều ở Sapa: Mọc hoang ở đồi núi hoặc ven đường. Miền đồng bằng có mọc và được trồng để lấy củ làm thuốc. Trồng bằng củ, rất dể mọc. Còn thấy ở Trung Quốc (Giang Tô, Triết Giang). Trồng thử ở đồng bằng, chúng tôi thấy cây ra hoa vào các tháng 8-9, ra quả vào các tháng 9-10. Thường người ta ít chú ý vì hoa quả rất nhỏ cho nên ít người trông thấy nên thường người ta nói cây này không có hoa.

Mùa thu hoạch quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa thu (tháng 8-9), có nơi thu hái vào các tháng 2-3. Đào về, cắt bỏ rễ con, rửa sạch đất cát cắt thành từng mẩu ngắn dài không đều hoặc thái mỏng, phơi hay sấy khô. Vị thuốc dài ngắn không đều, thường dài l-8cm, đường kính 0,6-2cm, mặt ngoài màu nâu vàng, khi bẻ hay cắt ngang có màu vàng; mùi không rõ, vị hơi đắng.

Thành phần hoá học

Thành phần hóa học trong cốt khí củ chủ yếu là các hợp chất anthanoid. Dịch chiết nước của cốt khí củ có tác dụng chống viêm ức chế sự tăng sinh của các khối u trong cơ thể, ức chế sự đột biến và khép AND bởi 1- nitropyren. Là một trong những vị thuốc có tác dụng chống lão hóa.

Dịch chiết từ rễ còn có tác dụng cầm máu, chống ho, giãn phế quản, hạ cholesterol, ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn mủ xanh và trực khuẩn lỵ… Các stiben trong cốt khí củ, đặc biệt resveratrol có tác dụng làm giảm sự lắng đọng lipoprotein (LDL), chống ôxy hóa, ngăn chặn sự phát triển của ung thư da, còn có khả năng làm biến đổi sự tổng hợp triglycerid và cholesterol… làm giảm tổn thương các tổ chức ở gan.

Theo YHCT, cốt khí củ có vị đắng, tính ấm. Quy kinh can, tâm bào với công năng hoạt huyết thông kinh, chỉ thống, trừ phong thấp, thanh thấp nhiệt, tiêu viêm, sát khuẩn.

TÁC DỤNG VÀ CÁCH DÙNG

Trong nhân dân Việt Nam củ cốt khí là một vị thuốc dùng chữa tê thấp, do bị ngã, bị thương mà tổn thương đau đớn; còn là một vị thuốc thu liễm cầm máu.

Vị thuốc đưọc ghi (trong bộ Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân (Trung Quốc, thế kỷ 16). Theo tính chất ghi trong tài liệu cổ thì vị thuốc có tác dụng lợi tiểu, thông kinh, giảm đau giảm độc, dùng cho những người bị kinh nguyệt bế tắc, kinh nguyệt khó khăn đau đớn, do bị ngã bị thương mà đau đớn, đẻ xong huyết ứ, bụng trướng, tiểu tiện khó khăn.

Ngày dùng 6-10g dưới dạng thuốc sắc hay ngâm rượu cùng nhiều vị thuốc khác mà uống.

Đối tượng sử dụng:

+ Những người bị bệnh viêm khớp, thoái hóa khớp, đau cột sống.

+ Phụ nữ bị tắc kinh

+ Người bị viêm tắc động mạch, xơ vữa động mạch

+ Người bị gan nhiễm mỡ.

Cốt khí củ được dùng làm thuốc như sau:

1. Trị các bệnh phong tê thấp, đau nhức gân xương cốt, đau gối, đau vai, lưng, và các khớp ngón tay, ngón chân… do có tính họat huyết.

Bài thuốc: Cốt khí củ, rễ tầm soọng, rễ cỏ xước, lá lốt, cam thảo dây, dây đau xương, mỗi vị 20g, sắc uống, ngày 1 thang. Uống liền 2-3 tuần. hoặc dùng Cốt khí củ, rễ gối hạc, mỗi vị 12g, mộc thông, lá bìm bìm, mỗi vị 20g, sắc uống trị đau đầu gối, sưng đau mu ban chân…

2. Ngoài ra, cốt khí củ thường phối hợp với các vị thuốc hoạt huyết: Ích mẫu, hồng hoa, đào nhân, kê huyết đằng… trị các bệnh đau bụng do bế kinh, đau bụng kinh nguyệt, sau đẻ huyết ứ, bụng căng trướng gây đau đớn hoặc sưng đau do sang chấn, té ngã…

Bài thuốc: Cốt khí củ 20g, lá móng 30g. Sắc uống, chia 2 lần trong ngày.

+ Để trị viêm gan cấp tính, có thể dùng cốt khí củ, chút chít, mỗi vị 15g, Lá móng 20g. Sắc uống, ngày một thang. Uống liền 3- 4 tuần lễ; hoặc phối hợp với kim tiền thảo, xa tiền tử, tỳ giải, mỗi vị 12-16g để trị viêm gan, viêm túi mật, sỏi mật, sỏi tiết niệu.

+ Cốt khí củ còn được dùng để trị các bệnh xơ cứng động mạch, bệnh ho, hen suyễn và tăng huyết áp… Tuy nhiên trong những trường hợp cụ thể, người ta thường phối hợp với các vị thuốc khác để tăng thêm hiệu quả điều trị.

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY CỐT KHÍ”