CÂY DỨA DẠI

SALE cay-dua-dai

– Chữa Kiết lỵ

– Chữa mắt sinh màng mộng, thị lực giảm dần, nhìn không rõ

– Chữa cảm nắng, say nắng

– Chữa viêm gan siêu vi

– Chữa đái buốt, đái rắt, đái đục, đái tháo đường

– Bồi bổ cơ thể

– Chữa chân lở loét lâu ngày

– Chữa các vết loét sâu gây thối xương

– Chữa chứng người bồn chồn, chân tay vật vã, phát nóng.

– Chữa phù thũng, đái rắt, đái buốt, đái ra máu, đái ra sỏi.

150,000 120,000

Tên thường gọi: Dứa dại còn được gọi là Dứa gai, dứa gỗ, dứa núi, lỗ cổ tử, sơn ba la, dã ba la, lộ đầu từ …
Tên khoa học Pandanus tectorius Sol, thuộc họ dứa dại Pandanaceae

Mô tả thực vật

Dứa dại là một cây nhỏ phân nhánh ở ngọn, cao 3 – 4m, với rất nhiều rễ phụ thả xuống đất. Lá mọc ở đầu nhánh thành chum, hình bản dài 1 – 2m, gân giữa và mép có gai sắc.Bông mo đực thành bông tận cùng và rủ xuống với mo màu trắng,riêng biệt, hoa rất thơm, bông mo cái mọc đơn độc gồm rất nhiều lá noãn. Cụm hoa mang quả thành một khối hình trứng, dài 16 – 22cm, có cuống, màu vàng cam, với những quả hạch có góc cạnh, phẳng và thành bướu ở đỉnh, hạch rất cứng, nhiều cạnh, có hốc.

Dứa dại là một cây thuốc nam quý , Cây mọc hoang ở bờ suối, ven đê. Ngoài ra dứa dại còn được trồng ở nhiều nơi để làm hàng rào để ngăn châu bò. Nhiều nơi còn trồng dứa dại để lấy lá dệt đồ thổ cẩm, chiếu. Đọt non dứa dại còn được dùng để ăn.

Nơi sống và thu hái:

Loài phân bố rộng trên các bờ biển của Ấn Độ, Xri Lanca, Mianma, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Trung Quốc (Hồng Kông, Đài Loan), Nam quần đảo Ryu Kyu Malaixia, Micronesia và Philippin. Dứa dại thường phân bố trên các bãi ẩm có cát, trong các rú bụi ven biển, dọc bờ ngòi nước mặn; rừng ngập mặn, cũng phân bố trong đất liền, ở vĩ độ thấp, dọc theo các sông, khắp nước ta, từ Hoà Bình, Quảng Ninh, Nam Hà tới Quảng Nam-Đà Nẵng, Khánh Hoà, Bình Thuận, Đồng Nai, Kiên Giang.

Bộ phận dùng

Búp lá non đọt, rễ hoa quả đều có thể dùng làm thuốc

Rễ thu hái quanh năm; thu các rễ chưa bám đất tốt hơn là rễ ở dưới đất, đem về thái mỏng, phơi hay sấy khô dùng dần. Thu hái quả vào mùa đông dùng tươi hay phơi khô.

Cách chế biến và thu hái

Đọt non, quả và rễ được dùng làm thuốc. Rễ lấy về (rễ non chưa bám đất tốt hơn) thái mỏng, phơi hay sấy khô dùng dần.

Quả hái về thái mỏng phơi hoặc sấy khô sử dụng dần

Rễ cây Có thể thu hái quanh năm, rửa sạch, thái lát, phơi hoặc sấy khô dùng dần. Có người cho rằng dùng rễ non chưa bám đất thì tốt hơn.

Thành phần hoá học:

Hạt phấn hoa và lá bắc rất thơm, khi chưng cất, người ta thu được nước thơm và hương liệu. Các phần ngoài của hoa (lá bắc) chứa tinh dầu mà 70% là methyl ether của b-phenylethyl alcohol. Hoa nở chứa 0,1-0,3% tinh dầu chứa benzyl benzoate, benzyl salicylate, benzyl acetate, benzyl alcohol, geraniol, linalool, linalyl acetate, bromostyren, guaiaco,l phenylethyl alcohol và aldehyd.

Nơi mua bán vị thuốc DỨA DẠI đạt chất lượng ở đâu?

Trước thực trạng thuốc đông dược kém chất lượng, nguồn gốc không rõ ràng,… xuất hiện tràn lan trên thị trường, làm ảnh hưởng tới hiệu quả điều trị cũng như ảnh hưởng tới sức khỏe của bệnh nhân. Việc lựa chọn những địa chỉ uy tín để mua thuốc đông dược là rất quan trọng và cần thiết. Vậy khách hàng có thể mua vị thuốc DỨA DẠI ở đâu?

DỨA DẠI là vị thuốc nam quý, được sử dụng rộng rãi trong YHCT. Hiện tại hầu hết các cửa hàng thuốc đông dược, phòng khám đông y, phòng chẩn trị YHCT… đều có bán vị thuốc này. Tuy nhiên người mua nên chọn những địa chỉ có uy tín, đảm bảo chất lượng, có giấy phép hoạt động để mua được vị thuốc đạt chất lượng.

Với mong muốn bệnh nhân được sử dụng những loại dược liệu đúng, chất lượng tốt, THIÊN ĐƯỜNG THUỐC NAM chúng tôi không chỉ thu hái ngoài tự nhiên mà còn tổ chức trồng cây thuốc theo tiêu chuẩn, với mong muốn cung cấp cho khách hàng những vị thuốc đông y (thuốc nam, thuốc bắc) đúng, chuẩn, đạt chất lượng cao, để “ NAM DƯỢC ĐÚNG SẼ TRỊ BỆNH NAM NHÂN”. Các vị thuốc có trong tiêu chuẩn Dược điển Việt Nam đều được nghành y tế kiểm nghiệm đạt chất lượng tiêu chuẩn

TÁC DỤNG

Vị thuốc Dứa dại:

Tính vị qui kinh:

+ Đọt có vị ngọt, tính lạnh. Có tác dụng thanh nhiệt, lương huyết, chỉ huyết, sinh cơ, tán nhiệt độc. Vào các kinh tâm, phế, tiểu tràng, bàng quang

+ Quả vị ngọt, tính bình. Có tác dụng ích huyết, cường tâm, bổ tỳ vị, tiêu đàm, phá tích trệ, giải độc rượu…

+ Rễ vị ngọt nhạt, tính mát.

+ Hoa: Theo đông y, hoa dứa dại có vị ngọt, tính lạnh. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trừ thấp nhiệt, cầm tiêu chảy do nhiệt độc

– Chữa Kiết lỵ

– Chữa mắt sinh màng mộng, thị lực giảm dần, nhìn không rõ

– Chữa cảm nắng, say nắng

– Chữa viêm gan siêu vi

– Chữa đái buốt, đái rắt, đái đục, đái tháo đường

– Bồi bổ cơ thể

– Chữa chân lở loét lâu ngày

– Chữa các vết loét sâu gây thối xương

– Chữa chứng người bồn chồn, chân tay vật vã, phát nóng.

– Chữa phù thũng, đái rắt, đái buốt, đái ra máu, đái ra sỏi.

CÁCH DÙNG

Cách dùng, liều dùng

+ Đối với đọt non: Ngày uống 20 – 30gram

+ Đối với rễ: Ngày uống 10 – 15gram

+ Đối với quả dứa dại: Ngày dùng 30 – 40gram sắc uống.

Ứng dụng lâm sàng của vị thuốc dứa dại

– Chữa Kiết lỵ: Dùng quả dứa dại 30-60g sắc nước uống (theo sách Thường dụng trung thảo dược thủ sách).

– Chữa mắt sinh màng mộng, thị lực giảm dần, nhìn không rõ: Dùng quả dứa dại, thái nhỏ, ngâm trong mật ong, ăn dần trong ngày; mỗi ngày ăn 1 quả, dùng liên tục 1 tháng có thể khỏi bệnh (sách Cương mục thập di);

– Chữa cảm nắng, say nắng: Dùng quả dứa dại 10-15g, sắc uống (Lĩnh nam thái dược lục).

– Chữa viêm gan siêu vi: Dùng quả dứa dại 12g, diệp hạ châu (chó đẻ răng cưa) 8g, nhân trần 12g, trần bì 8g, hổ trượng căn (cốt khí củ) 12g, ngũ vị tử 6g, cam thảo 4g, sắc với 1.000ml, đun cạn còn 450ml, chia thành 3 lần uống lúc đói trong ngày (Hiện đại thực dụng phương tễ).

– Chữa đái buốt, đái rắt, đái đục, đái tháo đường: Dùng quả dứa dại khô 20-30g, thái lát mỏng, sắc hoặc hãm uống thay trà trong ngày (Kinh nghiệm dân gian).

– Bồi bổ cơ thể: Dùng trái dứa dại, thái lát mỏng, ngâm rượu uống (Kinh nghiệm dân gian).

– Điều trị bệnh lòi dom: Dùng đọt non, rễ non dứa dại đắp vào vùng lòi dom trong 1 tháng sẽ khỏi

– Chữa chân lở loét lâu ngày: Dùng đọt non dứa dại và đậu tương, hai thứ liều lượng bằng nhau, giã nát, đắp vào chỗ lở loét; có tác dụng sát trùng và lành vết loét (Lĩnh nam thái dược lục).

– Chữa các vết loét sâu gây thối xương: Dùng đọt non dứa dại giã đắp vào vết thương, có tác dụng hút mủ và làm lành vết loét (Lĩnh nam thái dược lục).

– Chữa chứng người bồn chồn, chân tay vật vã, phát nóng: Dùng đọt non dứa dại 30g, đậu đỏ nhỏ hạt (xích tiểu đậu) 30g, cỏ bấc đèn (đăng tâm thảo) 6g, búp tre 15 cái, sắc nước uống (Lục xuyên bản thảo).

– Chữa phù thũng, đái rắt, đái buốt, đái ra máu, đái ra sỏi: Dùng đọt non dứa dại 15-20g sắc nước uống thay nước trong ngày (Kinh nghiệm dân gian).

Hoa dứa dại:

Theo đông y, hoa dứa dại có vị ngọt, tính lạnh. Có tác dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trừ thấp nhiệt, cầm tiêu chảy do nhiệt độc. Dùng chữa các chứng ho do cảm mạo, sán khí, đái dục,đái buốt, đái nhỏ giọt, tiểu tiện không thông, nhọt mọc ở sau gáy,…

– Chữa ho do cảm mạo: Dùng hoa dứa dại 4-12g hoặc dùng quả 10-15g, sắc nước uống (Quảng Tây trung thảo dược).
rễ dứa dại

Dùng chữa các chứng bệnh như cảm mạo, sốt dịch, viêm gan, viêm thận, viêm đường tiết niệu, phù thũng, đau mắt đỏ, thương tổn do bị ngã, bị đánh chấn thương.

– Chữa phù thũng, xơ gan cổ trướng: Dùng rễ dứa dại 30-40g, phối hợp với rễ cỏ xước 20-30g, cỏ lưỡi mèo 20-30g sắc nước uống trong ngày (Kinh nghiệm dân gian).

– Chữa ngã, đánh chấn thương: Dùng rễ dứa dại, giã nát đắp vào chỗ bị thương rồi băng cố định lại (Kinh nghiệm dân gian).

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY DỨA DẠI”