CÂY KHẾ CHUA

cay-khe-chua

250,000

Còn gọi là khế ta, khế cơm, khế chua, khế giang, ngũ lãng tử, dương đào, ngũ liêm tử

Tên khoa học Averrhoa carambola L

Thuộc họ Chua me đất Oxalidaccae

Vì quả khế có 5 cạnh nên gọi là ngũ liễm (liễm là thu lại, tụ lại)

A. Mô tả cây

Khế là cây gỗ cao 4-6m. Lá mọc so le, kép lông chim, dìa lẻ, dài 11-17cm, lá chét gồm 3-5 đôi, nguyên, mềm, hình trứng nhọn, những lá chét ở phía trên lớn hơn đạt tới 8,5cm chiều dài, trên 3,5cm chiều rộng.

Hoa mọc thành chùm xim dài 3-7cm, ở kẽ lá, màu hồng hay tím nhạt. 5 nhị hữu thụ xen kẽ với 5 nhị thoái hóa. Lá noãn 5 họp thành một bầu thượng 5 ô, mỗi ô chứa 4 noãn.

Quả mọng có 5 cạnh, vị chua.

B. Thành phần hóa học

Trong vị khế có các chất đường, vitamin B 1, C 2, kali oxalat axit. Các chất khác chưa rõ

TÁC DỤNG VÀ CÁCH DÙNG

Theo tính chất của đông y, khế vị chua ngọt có tính sáp (sít) bình, không độc. Chủ trị phong, nhiệt (nóng sốt), sinh tân dịch, chỉ khát (chữa khát)
Trong nhân dân thường dùng lá khế giã nhỏ đắp lên những nơi bị lở sơn (sơn ăn). Có thể dùng quả giã lấy nước mà đắp lên. Còn dùng chữa mẩn ngứa, lở loét sưng đau do dị ứng. Qủa dùng lấy nước ép uống cho mát, chữa bệnh scobut. Tại Campuchia, người ta dùng rễ cây khế phối hợp với vỏ cây khleng pear hay khleny kraham (Bauhiniabassaceusis Pierre) và vỏ cây Lagerstrocmin floribunda với gạo (hái ở những cây mọc hoang) tất cả sắc với nước, cô đặc còn 1/3, thêm đường cho thật ngọt mà uống để chữa ngộ độc, đặc biệt ngộ độc do mã tiền. Qủa còn dùng giặt những vết gỉ sắt trên quần áo do các chất kali oxalat axit.
Kinh nghiệm dùng lá khế trong nhân dân Chữa sơn lở, dị ứng, lở loét. Lá khế cả cành non và hoa 100-150g. Nấu sôi 15 phút với 5-6 lít nước, dùng xông và tắm. Lá đã nấu rồi dùng sát lên nơi lở loét. Thường chỉ điều trị 3-4 ngày là khỏi
Kinh nghiệm nhân dân cũng thường hay dùng lá khế đun nước tắm cho trẻ con sơ sinh nếu sinh vào mùa hè cho mát, còn dùng đun tắm trị rôm cho trẻ nhỏ.
THAM KHẢO
Trong ‘Từ điển văn hoá cổ truyền Việt Nam’, Nhà xuất bản Thế giới 1995, tr 651 có nhắc lại: ‘Truyện cây khế’: Khi chia gia tài, người anh chiếm phần lớn chỉ dành cho em căn nhà lụp xụp và một cây khế. Phượng hoàng đến ăn khế và bảo: ‘Ăn một quả khế, trả một cục vàng, may túi ba gang, mang đi mà đựng’. Người em làm theo lời chim được chim đưa đến hòn đảo giữa biển lấy đầy túi vàng và trở nên giàu có. Người anh gạ đổi gia tài mình lấy cây khế: anh ta may túi to sáu gang, chim mang không nổi, đã sả cánh thả người anh xuống biển.
Cây khế thuộc họ Chua me đất hay Me đất (OXALIDACEAE). Tuy vậy, Hutchinson lại tách nó ra thành một họ riêng AVERRHOACEAE.
Có hai loài:
1. Averrhoa carambola L. (Quả chia thành 5 múi)
2. Averrhoa bilimbi L. (Rãnh giữa các múi nông)
Tên chi Averrhoa đặt từ Averrhoes, là tên một thầy thuốc và triết gia Ả Rập của thế kỷ XII, người đầu tiên phát hiện Cây khế là một dược liệu chữa được nhiều bệnh
I. Averrhoa carambola L.
Khế, Khế ta, Khế cơm, Khế chua, Khế giang- Ngũ lăng tử, Ngũ liêm tử- Dương đào – Carambola, Carambolier. Vì quả khế có 5 cạnh nên người ta gọi là ngũ liêm.
Cây gỗ to, cao 4-5m, lá mọc so le, kép lông chim lẻ, dài 11-17cm; 3-5 đôi lá chét nguyên, dạng màng cứng, trái xoan, có mũi nhọn, màu lục lờ ở mặt dưới; những cái trên dài tới 8,5cm x 3,5cm. Hoa màu hồng hay tím, mọc thành chùm xim dài 3-7cm ở kẽ lá. Quả mọng, thuôn, màu vàng, nạc, mang đài con lai, có 5 góc lồi, không nứt ra, ăn rất ngon.
Theo sách “Thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam”- Nhà xuất Bản Y học 1995, tr 151 thì thành phần của quá khế như sau: Thải bỏ 13%; 100g ăn được cho: Năng lượng 15Kcal, 62 KJ. Nước 93,5g; Protein 0,6g; Gluxit 3,1g; Xenluloza 2,6g; Tro 0,2g; Na 2mg; K 181mg; Ca 10mg; P 8mg; Sắt 0,9 mg; Beta-caroten 160 microgam; B10,05mg; B20,04mg; PP: 0,4mg; C: 30mg.
Hàm lượng axit oxalic là 1%.
Chữa lở sơn (Sơn ăn): Lá khế 20g hay hơn, giã nhỏ đắp lên hay nấu nước uống trong hoặc tắm. Có thể đắp bằng nước quả giã.
Kết hợp với một chất oxi hoá mạnh (KMnO4…), quả dùng để giặt những vết gỉ sắt, vết mực trên quần áo và để rửa các dụng cụ bằng kim loại.
Ngoài các công dụng đặc biệt kể trên, công dụng của từng bộ phận của cây khế như sau:

+ Chữa ho suyễn trẻ em: Lấy 20g lá khế, rửa sạch, nấu nước uống làm 2 lần trong ngày, mỗi lần nửa bát con.
+ Chữa dị ứng, mẩn ngứa: lấy lá khế giã nát bôi, xoa và uống nước sắc vỏ núc nác (16g).
+ Chữa lở loét: Nấu nước tắm với lá khế, lá thanh hao, lá long não và lá thông.
+ Chữa ngộ độc nấm, rắn cắn: lấy lá Khế 20g, lá hoặc quả Đậu ván đỏ 20g, Lá lốt 10g, có hoa càng tốt. Dùng tươi cho vào cối sạch, giã nát, hoà với 200ml nước đun sôi để nguội, chắt lấy nước uống làm một lần. Có thể dùng lá khô (liều lượng bằng 1/2 hoặc 1/3 liều lá tươi) sao qua cho thơm, sắc uống. Thêm đường cho thật ngọt. Nếu mới bị ngộ độc chỉ uống 2-3 lần là khỏi.
+ Chữa cảm nắng: lấy 20g lá khế tươi giã cùng với lá chanh 10g lấy nước uống.
+ Đề phòng bệnh sốt xuất huyết trong thời gian có dịch: hàng ngày hãy uống nước sắc lá Khế 16g với lá Dâu 12g, Sắn dây 12g, lá Tre 12g, Mã đề 12, Sinh địa 12g.
Hoa
+ Chữa chứng ho khan, ho có đờm, kiết lỵ: lấy hoa Khế (12g) tẩm nước gừng rồi sao, sắc uống.
+ Chữa sốt cao, kinh giật ở trẻ em: lấy hoa Khế 8g, hoa Kim ngân 8g, lá Dành dành 8g, cỏ Nhọ nồi 8g, Cam thảo 4g, Bạc hà 4g, tán bột, mỗi lần uống 4g
Quả
+ Chống bệnh Scorbut và chữa ngộ độc: uống nước ép quả Khế
+ Chữa đái không thông: dùng 7 quả khế, cắt mỗi quả lấy một miếng khoảng 1/3 phía gần cuống để vào một bát nước, sắc còn nửa bát. Uống lúc nóng. Đồng thời lấy một quả khế và một củ tỏi giã nát đắp vào rốn (Tuệ Tĩnh. Nam dược thần hiệu).
+ Thúc sởi, làm sởi chóng mọc và mọc đều: lấy quả khế phơi khô 20g, canh châu 20g, sao vàng hạ thổ, sắc uống làm 2 lần trong ngày. (Kinh nghiệm của tổng Hội Y học Hà Tây).
+ Phụ nữ sau khi đẻ: dùng nước sắc quả khế 20g với vỏ cây hồng bì 30g, rễ sử quân 20g uống rất tốt.
+ Vết thương, mụn nhọt, lở loét: nấu nước quả khế dùng ngoài để rửa.
Hạt
+ Chữa đẻ khó, sót rau: lấy 9 hạt khế phơi khô, nhai nuốt nước.
Vỏ
+ Chữa ho lâu ngày, viêm họng, viêm amiđan: Lấy vỏ cây khế cạo hết lớp mốc và vỏ xanh bên ngoài, thái nhỏ, sao vàng, lấy 20g sắc với vỏ cây đơn châu chấu 8-12g, uống.
Tầm gửi cây khế
+ Chữa gãy xương: Lấy tầm gửi cây khế giã nhỏ trộn với nước vo gạo nướng rồi đắp vào chỗ gãy xương.
+ Chữa ho gà, sốt rét: sao vàng tầm gửi cây khế, sắc uống.
+ Chữa ho và hen sữa trẻ em: dùng tầm gửi cây khế phối hợp với tầm gửi cây ruối, rau má. Mỗi thứ 20g, bạc hà, lá hẹ mỗi thứ 10g. Sắc đặc, thêm mật ong cho đủ ngọt, uống.
II. Averrhoa bilimbi L.
Khế tàu, Bilimbi
Cây gỗ nhỏ, cao 5-10m. Lá kép gồm 21-45 lá chét tròn, dài, thon, có ít lông ở mặt dưới; cuống phụ rất ngắn. Cụm hoa hình cờ ở thân hay nhánh già, cứng, có đốt. Hoa màu đỏ đậm, dài 5-7mm, tiền khai vặn. 5 nhị dài, 5 nhị ngắn. Bầu 5 vòi nhuỵ. Quả mọng hình trụ dài 5-10cm, có cạnh tù, màu xanh vàng và trong suốt khi chín. Nạc rất chua, ra hoa quanh năm.
Loài này được trồng rải rác ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Quả chứa 42,2% dịch có độ pH 4-4,7. Quả làm se, lợi tiêu hoá, làm lạnh. Nạc rất chua, khó ăn tươi. Quả dùng trị trĩ và bệnh scorbut do thiếu vitamin C.

Theo GS. Vũ Văn Chuyên_NCTQ số 08

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY KHẾ CHUA”