CÂY KIM SƯƠNG

cay-kim-suong

+ Thuốc chữa đau nhức, teo cơ.

+ Chữa đau ngực, té ngã tổn thương.

+ Chữa cảm mạo, rắn độc cắn.

+ Chữa tê thấp, teo cơ, nhức mỏi, ho hen.

+ Chữa cảm sốt, đau dạ dày, tiêu chảy.

+ Chữa đau họng.

+ Chữa rắn độc cắn.

Sản phẩm được phơi sấy khô và bảo quản trong điều kiện thích hợp.

Bán buôn, bán lẻ toàn quốc. Đơn vị (kg)

130,000

Còn gọi là mán chỉ, đõi cầy, chàm hôi, tráng, ớt rừng, lãng ớt, mak so mát, may bi canh, mak khèn (Lào), hang chang (Mường), tomlay khouang, leai sma (Campuchia). Tài liệu Trung quốc gọi là Bạch mộc -白木, Đại quản -大管.

Tên khoa học Micromelum Falcatum (Lour.) Tan. Thuộc họ Cam Rutaceae.

Mô tả thực vật

Cây nhỏ hay nhỡ. Cành lúc non có lông mịn, sau nhẵn. Lá màu lục vàng nhạt, mọc so le, 7-9 lá chét, lệch ở phía cuống, phiến lá nhẵn trừ mật trên gân chính và gân lớn ở mặt dưới. Hoa trắng hay vàng nhạt, mọc thành cụm ngắn hơn lá. Cánh hoa chỉ hơi có lông hay không có lông. Quả hình trứng, khi chín có màu vàng hay màu vàng cam, nhẵn, trong có 2-3 ngăn. Mỗi ngăn chứa một hạt. Mùa hoa tháng 12-1.

Phân bố, thu hái và chế biến

Mọc hoang rất phổ biến ở khắp miền rừng núi nước ta Bắc Giang, Bắc Ninh, Hà Tây, Hoà Bình, Cao Bằng, Lạng Sơn, Thanh Hoá v.v…

Ở Việt Nam, chùm hôi thường mọc ở vùng núi thấp và trung du. Cây chịu bóng, mọc dưới tán rừng thưa, rừng núi đá vôi hoặc trong các quần hệ cây bụi sau nương rẫy. Cây ra hoa quả đều hàng năm, tái sinh tự nhiên chủ yếu từ hạt. Sau khi chặt, gốc còn lại cũng có khả năng sinh cây chồi. Để làm thuốc, thường đào lấy rễ về, rửa sạch, xắt mỏng, phơi hay sấy khô.

Thường người ta chỉ hay dùng lá tươi hái về sao vàng sắc uống hoặc vò lá tươi vắt lấy nước. Có khi giã nát đắp lên nơi lở loét, vết thương.

Rễ hái về rửa sạch, thái mỏng phơi hay sấy khô. Không phải chế biến gì khác.

Thành phần hoá học

Hoạt chất chưa rõ. Chỉ mới biết trong lá và quả đều chứa tinh dầu.

Theo Trung Hoa bản thảo, thành phần hóa học trong rễ chứa: yuehchukene, 5,6-pyranoglycozoline, micromelin, phebalosin, murpanidin. Theo Từ điển cây thuốc Việt Nam, lá và quả chứa tinh dầu; hoa thơm tiết mùi acid prussic.

Nghiên cứu dược lý cho thấy dịch chiết chùm hôi có tác dụng làm giảm viêm cấp tính chân chuột, giảm co bóp hồi tràng và tử cung cô lập động vật thí nghiệm và gây tăng huyết áp trên chó

TÁC DỤNG VÀ CÁCH DÙNG

Theo Đông y, chùm hôi có vị cay, đắng, tính ấm; có tác dụng tán ứ, giãn gân, hoạt huyết, giảm đau, giải độc, kích thích tiêu hóa.

+ Người ta thường dùng lá trị cảm mạo, rắn độc cắn, các vết thương nhiễm trùng hay sâu bọ đốt. Lá sao vàng ngâm rượu xoa bóp chữa tê thấp, teo cơ.

+ Rễ chữa đau họng, ho hen, tức ngực, phong thấp tê bại, chân tay co quắp, đòn ngã gãy xương, vết đứt dao chém. Một số nơi dùng lá hay rễ sắc uống chữa kinh nguyệt không đều, sốt, đau dạ dày. Ngày dùng 6-12g, dạng thuốc sắc, hoặc ngâm rượu để xoa bóp. Dùng ngoài lấy lá tươi giã đắp.

+ Lá dùng ngoài giã nát đắp lên vết thương vết loét, sao vàng ngâm rượu xoa bóp chữa tê thấp, teo cơ. Rể cũng dùng ngâm rượu xoa bóp.

Theo kinh nghiệm của người dân tộc Pako, dược liệu có chữa khối u, hạch vùng cổ, chữa đau bụng, tay chân đau mỏi các chứng tiểu khó, khó thở, ho lâu ngày. Khi dùng kèm với thuốc bổ. Liều dùng 8-10g cành và lá khô/ngày.

Ở các công bố quốc tế, dược liệu này đã được nghiên cứu có khả năng gây độc tế bào ung thư.

Một số nơi dùng lá hay rễ sấc uống chữa kinh nguyệt không đểu, sớt, đau nhức, tê thấp. Mỗi ngày uống 6 đến 12g dưới dạng thuốc sắc.

Đối tượng sử dụng cây kim sương:

+ Những người bị bệnh tê thấp do nhiều nguyên nhân

+ Phụ nữ kinh nguyệt không đều

Đơn thuốc có kim sương dùng trong nhân dân.

+ Thuốc chữa đau nhức, teo cơ: Rễ kim sương sao vàng 50g, cồn 40° 500ml. Ngâm trong vòng 7 đến 10 ngày. Lấy rượu xoa bóp nơi đau nhức, teo cơ.

+ Chữa đau ngực, té ngã tổn thương: rễ chùm hôi 12-20g, sắc uống.

+ Chữa cảm mạo, rắn độc cắn: lá chùm hôi 8-16g, sắc uống.

+ Chữa tê thấp, teo cơ, nhức mỏi, ho hen: rễ chùm hôi, vỏ núc nác, thân bạch đồng nữ hoặc xích đồng nam, rễ cây vú bò, củ sả, mỗi vị 10g, sắc uống.

+ Chữa cảm sốt, đau dạ dày, tiêu chảy: rễ chùm hôi, rễ xuyên tiêu, rễ cúc áo hoa vàng, rễ chanh, quả màng tang, mỗi vị 8g, sắc uống.

+ Chữa đau họng: vỏ thân chùm hôi sắc đặc, ngậm nuốt dần từng ít một.

+ Chữa rắn độc cắn: lá chùm hôi giã nhuyễn, thêm nước gạn uống, bã đắp lên vết cắn.

+ Chế rượu xoa bóp: rễ chùm hôi sao vàng 50g, ngâm trong 500ml cồn 400, sau 1 tuần lễ, dùng rượu này xoa bóp vào chỗ đau nhức, teo cơ.

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY KIM SƯƠNG”