CÂY NGƯU TẤT

cay-nguu-tat

250,000

Còn có tên là cây cỏ xước, hoài ngưu tất

Tên khoa học Achyranthes bidentata Blume

Thuộc họ Dền Amaranthaceae

Ta dùng rễ phơi hay sấy khô-Rdix Achyranthes bidentata của cây ngưu tất

Sách cổ nói: vị thuốc giống đầu gối con trâu nên gọi là ngưu tất (ngưu là trâu, tất là gối)

A. Mô tả cây

Cây ngưu tất là một loại cỏ xước cho nên người ta nhầm với cây cỏ xước Achyranthes aspera L. Cỏ có thân mảnh, hơi vuông, thường chỉ cao 1m, cũng có khi tới 2m.

Lá mọc đối có cuống, dài 5-12cm, rộng 2-4cm, phiến lá hình trứng, đầu nhọn, mép nguyên.

Cụm hoa mọc thành bông ở đầu cành hoặc kẽ lá (hình).

B. Phân bố, thu hái và chế biến

Hiện ta đang trồng giống ngưu tất di thực của Trung quốc có rễ to hơn cây cỏ xước mọc hoang ở khắp nơi trong nước ta. Có thể tìm loại cỏ xước ở nước ta dùng làm ngưu tất được nhưng tác dụng yếu. Rễ đào về rửa sạch, phơi hoặc sấy khô.

C. Thành phần hóa học

Trong rễ ngưu tất người ta chiết xuất ra một chất saponin, khi thủy phân sẽ cho axit oleanic C30H48O3 và galactoza, rhamnoza, glucoza. Ngoài ra còn có ecdysteron, inokosteron và muối kali

TÁC DỤNG VÀ CÁCH DÙNG

Trương Diệu Đức, Trương phát Sơ và Lưu Thiệu Quang (1935, Trung hoa y học tạp chí) đã dùng cao lỏng ngưu tất tiến hành 90 thí nghiệm trên tử cung cô lập của thỏ, chuột bạch, mèo và chó (có chửa hoặc không có chửa) đi tới kết luận sau đây:

1. Cao lỏng ngưu tất có tác dụng làm dịu sức căng của tử cung chuột bạch (có chửa hoặc không có chửa cũng vậy)

2. Đối với tử cung của thỏ có chửa hay không, đều phát sinh tác dụng co bóp

3. Cao lỏng ngư tất có tác dụng làm dịu tử cung của mèo không có chửa nhưng đối với tử cung mèo có chửa lại có tác dụng co bóp mạnh hơn

4. Đối với tử cung của chó có chửa hay không có chửa, cao lỏng ngưu tất khi thì gây co bóp khi thì gây dịu, tác dụng không nhất định, hoặc lúc đầu gây co bóp về sau có tác dụng dịu

5. Tác dụng của cao lỏng ngưu tất có lẽ do tác dụng trực tiếp kích thích dây thần kinh phía dưới bụng

 Theo Kinh Lợi Bân, Viện nghiên cứu quốc lập Bắc kinh, Sở nghiên cứu sinh lý học (1937) thì ngưu tất có tác dụng như sau:

a. Đối với động vật đã gây mê, ngưu tất có thể gây giảm huyết áp tạm thời, sau vài phút trở lại bình thường nhưng sau lại hơi tăng.

b. Ngưu tất có tác dụng làm yếu sức co bóp của khúc tá tràng

c. Ngưu tất có tác dụng làm yếu sức co bóp của tim ếch

d. Ngưu tất hơi có tác dụng lợi tiểu

e. Liều cao, ngưu tất có tác dụng kích thích sự vận động của tử cung

Chất saponin của ngưu tất có tác dụng phá huyết và làm cho vón anbumin

Ecdysteron và inokosteron có tác dụng làm kìm hãm sự phát triển của một số sâu bọ.

Đoàn thị Nhu phát hiện ngưu tất có tác dụng hạ cholesterol trong máu và tác dụng hạ huyết áp

Công dụng và liều dùng

Tính vị theo đông y: vị chua, đắng, bình, không độc, vào hai kinh can và thận. Có tác dụng phá huyết, hành ứ (sống), bổ can thận, mạnh gân cốt (chế biến chín)

Trong nhân dân, ngưu tất được dùng trong bệnh viêm khớp, đau bụng, kinh nguyệt khó khăn

Công dụng của ngưu tất theo y học cổ truyền

Ngưu tất sống có tác dụng tán huyết ứ, tiêu ung, lợi thấp; chữa đau họng, mụn nhọt; tiểu buốt, tiểu ra máu hoặc sỏi; đau bụng kinh, kinh nguyệt khó khăn; chấn thương tụ máu, đầu gối nhức mỏi.

Ngưu tất chín có tác dụng bổ can, ích thận, cường tráng gân cốt.

Ngưu tất sao tẩm chữa can thận hư, ù tai, đau lưng mỏi gối, tay chân co quắp hoặc bại liệt.

Một điều cần lưu ý là không dùng cây ngưu tất cho phụ nữ có thai do tác dụng hoạt huyết và tăng co bóp tử cung của nó.

Cây ngưu tất có công dụng gì trong y học

Một số chế phẩm có ngưu tất dùng để điều trị viêm khớp, viêm đa khớp dạng thấp mãn tính; ngưu linh tiên, solamin.

Viện Dược liệu có thuốc Dentonin (Antigiva), dùng điều trị viêm răng lợi, có chứa Ngưu tất, Sâm đại hành, Cà gai leo… đã được thử nghiệm lâm sàng cho kết quả tốt.

Trên lâm sàng, cây ngưu tất và một số bài thuốc có ngưu tất được dùng điều trị cho bệnh nhân bị mỡ máu cao, cao huyết áp, xơ vữa động mạch,… cho kết quả khá tốt.

Ngưu tất có tác dụng lợi tiểu, kích thích sự vận động của tử cung, có tác dụng đến dây thần kinh phía dưới bụng.

Một số bài thuốc từ ngưu tất

Ngưu tất dùng độc vị ngày 40 – 60g sắc uống nhiều lần chống co giật, bại liệt, đột quỵ, phong thấp teo cơ, xơ vữa mạch máu.

Ngưu tất 100g, Huyết giác 50g, Sâm đại hành 30g. Ngâm trong rượu 30 – 40 ngày. Từ 10 ngày trở lên, mỗi ngày uống 1 – 2 lần, mỗi lần 1 chén (10 – 15ml). Chữa các chứng bị thương máu tụ ở ngoài, hoặc bị ngã máu ứ ở trong hoặc đi xa về chân tay nhức mỏi.

Ngưu tất 30g, Hạt muồng sao 20g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, chữa các chứng bốc nóng, nhức đầu, chóng mặt, đau mắt, ù tai, tăng huyết áp cao, rối loạn tiền đình, khó ngủ, đau nhức dây thần kinh, rút gân, co giật, táo bón, hỗ trợ giảm hiện tượng béo phì.
Ngưu tất 30g; Rễ cỏ tranh, Mã đề, Mộc thông, Huyết dụ, lá Móng tay, Huyết sâm đều 15g sắc uống.

Ngưu tất thái lát mỏng 12g, hằng ngày có thể sắc hoặc hãm bằng phích nước nóng, uống thay nước trong ngày giúp làm giảm cholesterol và triglycerid.

Ngày dùng 3-9g dưới dạng thuốc sắc Người có thai không được dùng

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY NGƯU TẤT”