CÂY THẠCH VĨ

SALE cay-thạch-vi

1. Chữa viêm thận thuỷ thũng

2. Chữa viêm nhiễm niệu đạo, sỏi niệu đạo;

3. Chữa bế kinh;

4. Chữa viêm phế quản, viêm bàng quang;

5. Chữa suyễn khan (háo suyễn), phổi có mủ;

6. Chữa khạc ra máu, nôn ra máu, đái ra máu, đại tiện ra máu, băng lậu.

7. Chữa lợi tiểu chữa bệnh đái buốt, đái dắt, đái ra sỏi.

8. Chữa bệnh than, ung nhọt, lở loét, ngộ độc do lưu huỳnh

180,000 160,000

Cây thạch vĩ còn gọi là thạch bì, thạch lan, phi đao kiếm, kim tinh thảo. Tên khoa học Pyrrhosia lingua ( Thunb) Farwell ( Cyclophorus lingua Desv, Polypodium lingua Siv) thuộc họ Dương xỉ Polypodiaceae.

Mô tả thực vật

Cây thạch vĩ là một loại cây dương xỉ nhỏ, có thân rễ nằm ngang, dài tới 0,05m, dày vào khoảng 4mm, có nhiều nhánh phân chia theo lối đơn túc. Trên thân rễ có nhiều vẩy to, ở mặt dưới từng quãng có nhiều rễ hình sợi, phân nhánh mọc đối. Lá có hai loại: Lá bất thụ và lá hữu thụ.

Lá hữu thụ có cuống dài tới 9cm, phiến lá hình lưỡi mác rộng, dài 11-13cm, rộng 2-3cm. Mặt trên nhẵn màu xanh lục, mặt dưới màu nâu nhạt có nhiều ổ tử nang phủ khắp trừ trên gân giữa. Các lá bất thụ có cuống ngắn hơn, độ 5cm, với phiến lá hình trái xoan hơi hình mác, dài khoảng 9-11cm, rộng 3-4cm. Mặt trên màu lục nhạt, mặt dưới màu lục nâu, gân lá hình lông chim. Cả hai mặt đều nhẵn.

Bộ phận dùng: Toàn cây và lá – Herba et Folium Pyrrosiae Linguae, thường gọi là Thạch vĩ

Nơi sống và thu hái:

Cây mọc bám trên đá trong rừng núi, gặp nhiều nơi ở các tỉnh miền núi Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên,Tuyên Quang, Lào Cai, Vĩnh Phú, Hà Tây đến Thừa Thiên- Huế vào tận Ðà Lạt (Lâm Ðồng); có nơi cây mọc thành những đám rất lớn. Người ta dùng lá (toàn cây hay thân rễ) tươi, rửa sạch, cắt đoạn, phơi khô. Có thể thu hái quanh năm.

Thành phần hóa học:

Trong lá có phytosterol, tanin thuộc loại pyrocatechic, những đường khử oxy, các chất béo và các chất vô cơ; còn có diploptene, -sitosterol.

TÁC DỤNG

Tính vị, tác dụng:

Vị hơi đắng, tính bình; có tác dụng lợi niệu bài thạch; thanh phế tả nhiệt, lương huyết chỉ huyết; còn có tác dụng chống ho, làm long đờm.

Ðược dùng chữa:

1. Viêm thận thuỷ thũng.

2. Viêm nhiễm niệu đạo, sỏi niệu đạo;

3. Bế kinh;

4. Viêm phế quản, viêm bàng quang;

5. Suyễn khan (háo suyễn), phổi có mủ;

6. Khạc ra máu, nôn ra máu, đái ra máu, đại tiện ra máu, băng lậu.

Liều dùng 10-30g, dạng thuốc sắc. Còn dùng chữa ngoại thương xuất huyết.

Dân gian vẫn dùng làm thuốc lợi tiểu chữa bệnh đái buốt, đái dắt, viêm niệu đạo, đái ra máu, đái ra sỏi, … nhưng khi dùng phải bỏ những lông trên lá.

Thân rễ còn được dùng chữa bệnh than, ung nhọt, lở loét, ngộ độc do lưu huỳnh hoặc dùng phơi khô tán bột rồi trộn với dầu vừng bôi lên đầu cho tóc đen và làm cho tóc mọc nhanh.

CÁCH DÙNG

1. Sỏi đường tiết niệu: Thạch vi, Mã đề 30-60g mỗi thứ, Dành dành quả 30g, Cam thảo 9-15g, sắc uống

2. Rong huyết bạch đới: Thạch vi tán nhỏ uống mỗi lần 12g.

3. Ðại tiểu tiện ra máu: Thạch vi tán nhỏ, uống mỗi lần 8g với nước sắc cành cây Cà làm thang.

4. Phế nhiệt sinh ho: Thạch vi và Hạt cau lượng bằng nhau tán bột, uống mỗi lần 8g.

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY THẠCH VĨ”