CÂY TRINH NỮ HOÀNG CUNG

cay-trinh-nu-hoang-cung

210,000

Định danh khoa học

Cây còn gọi là: Hoàng cung trinh nữ-Tây nam văn châu lan- Thập bát học sĩ (Trung Quốc), Tôi – Thái Lan.

Tên khoa học: Crinum ialifolium L. Thuộc họ Thuỷ tiên Amaryllidaceae.

Cây có tên trinh nữ hoàng cung bởi thời xưa cây thuốc này là một vị thuốc quý, thường chỉ được dùng trong cung vua để điều trị bệnh phụ nữ cho các cung tần mỹ nữ, con gái vua.

A. MÔ TẢ THỰC VẬT

Cây cỏ lớn. Thân hành to, gần hình cầu hoặc hình trứng thuôn, đường kính 8 – 10cm, phủ bởi những vảy hình bản to, dày, màu trắng. La mọc thẳng từ thân hành, hình đài dài đến 50cm, có khi hơn, rộng 7 – 10cm, mép nguyên, gốc phẳng có bẹ, đầu nhọn hoặc tù, gân song song.

Cụm hoa mọc thành tán trên một cán dẹt, dài 30 – 40cm, lá bắc rộng hình thìa dài 7cm, màu lục, đầu nhọn, hoa màu trắng pha hòng, dài 10 – 15cm; bao hoa gồm 6 phiến bằng nhau, hàn liền 1/3 thành ống hẹp, khi nở đầu phiến quặn lại; nhị 6, bầu hạ.

Quả gần hình cầu (ít gặp)

Mùa hoa quả: tháng 8 – 9.

B. PHÂN BỐ SINH THÁI:

Chi crinum L. có khoảng 100 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới; trong đó, một số loài được trồng làm cảnh và làm thuốc tương đối phổ biến.

Cây trinh nữ hoàng cung có nguồn gốc từ Ấn Độ, hiện được trồng rộng rãi ở nhiều nước trong khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Lào, Ấn Độ, Việt Nam … và cả ở phía nam Trung Quốc. Ở Việt Nam, cây được trồng chủ yếu ở các tỉnh từ Quảng Nam – Đà Nẵng trở vào, sau được trồng ở các tỉnh phía Bắc.

Trinh nữ hoàng cung là cây ưa ẩm, ưa sáng hoặc có thể chịu nóng một phần, sinh trưởng và phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm của vùng nhiệt đới với nhiệt độ trung bình từ 22 – 270C, lượng mưa trên 1500mm/năm. Trinh nữ hoàng cung sinh trưởng mạnh trong mùa xuân hè, mỗi năm 1 cây có thể sinh ra 6 – 8 lá mới. Cây trồng ở các tỉnh phía Bắc có hiện tượng hơi tàn lụi vào mùa đông. Cây có khả năng đẻ nhánh khỏe, hàng năm thêm 3 – 5 hành con từ thân hành mẹ. Cây trồng được 3 năm sẽ tạo thành môt khóm lớn, có đến 20 nhánh ở các tuổi khác nhau.

Trinh nữ hoàng cung ra hoa hàng năm, nhưng không đậu quả ở Việ Nam. Trong khi đó, ở Thái Lan, Ấn Độ…, có thể thu được hạt giống để nhân giống.

C. CÁCH TRỒNG:

Trinh nữ hoàng cung đang được trồng ở nhiều nơi, từ miền Bắc đến miền Nam.

Cây được nhân giống bằng thân hành vào mùa xuân (tháng 2 – 3) ở miền Bắc và vào đầu mùa mưa ở miền Nam.

Chọn thân hành bánh tẻ, chưa ra hoa, không sâu bệnh để làm giống. Năm đầu, cây hầu như không đẻ nhánh. Từ năm thứ hai trở đi, cây mới bắt đầu đẻ nhánh. Vì vậy, tốc độ nhân giống rất chậm, nhất là khi cần nhân một dòng đã chọn lọc.

Hiện nay, đã có phương pháp nhân dòng vô tính khá nhanh bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro.

D. BỘ PHẬN DÙNG: Lá, thân hành.

E. THÀNH PHẦN HÓA HỌC:

Trinh nữ hoàng cung được nghiên cứu về hóa học chủ yếu từ 1980.

Các alkaloid trong trinh nữ hoàng cung thuộc 2 nhóm:

Không dị vòng: latisolin, lansodin, beladin.

Dị vòng: ambelin, crinafolin, crinafolidin…..

Thân rễ chứa 2 glucan: glucan A và glucan B. Glucan A gồm 12 đơn vị glucose còn glucan B có khoảng 110 gốc của glucose.

Ở Việt Nam, theo Nguyễn Hoàng và cs, 1997, trinh nữ hoàng cung có 11 alcaloid, 11 acid amin, acid hữu cơ. Trần Văn Sung và cs, 1998, đã phân lập được từ thân hành trinh nữ hoàng cung 5 alcaloid trong đó 2 chất là 1.lycorin và pratorin được nhận dạng bằng phổ khối lượng và phổ cộng hưởng từ hạt nhân proton carbon 13.

Võ Thị Bạch Huệ và cs, 1998, đã phân lập được từ lá 2 alcaloid là crinamidin, 6 –hydroxycrinamidin được nhận dạng bằng các phân tích hóa học và quang phổ.

Do có nhiều tính chất dược quý giá bởi vậy mà trinh nữ hoàng cung nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà Khoa học thế giới, cây đã trả qua rất nhiều nghiên cứu cả trong và ngoài nước. Các nhà khoa học đã tìm được các dược chất cơ bản sau trong cây trinh nữ hoàng cung: Hợp chất Latisolin, ancaloit, chất latisodin, đặc biệt là 2 hợp chất crinatblin và crinafolidin có tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư.

TÁC DỤNG VÀ CÁCH DÙNG

Cao methanol của rễ, thân và cao chiết alkaloid toàn phần của trinh nữ hoàng cung đều có tác dụng ức chế sự phân bào, kìm hãm sự tăng trưởng của rễ hành ta; hoạt tính của cao trinh nữ hoàng cung bằng hoặc hơn 50% so với hoạt tính của colchicin ở cùng nồng độ panacrin là chế phẩm thuốc bào chế từ hỗn hợp 3 dược liệu: lá trinh nữ hoàng cung, củ tam thất và lá đu đủ, được nghiên cứu về tác dụng chống ung thư.

CÔNG DỤNG, LIỀU DÙNG

Lá trinh nữ hoàng cung vị đắng, chát, tính bình

Y học cổ truyền đã biết sử dụng cây trinh nữ hoàng cung từ lâu để điều trị bệnh phụ nữ, ngày nay qua các nghiên cứu của các nhà khoa học mà trinh nữ hoàng cung được ứng dụng rộng dãi làm thuốc hỗ trợ điều trị các bệnh sau:

Tác dụng hỗ trợ điều trị Ung thư cổ tử cung, u nang buồng trứng

Tác dụng hỗ trợ điều trị Ung thư tuyến tiền liệt ở nam giới

Tác dụng hỗ trợ điều trị bệnh Ung thư vú

Đối tượng sử dụng

Bệnh nhân Ung thư cổ tử cung, u buồng trứng

Nam giới bị ung thư tuyến tiền liệt

Phụ nữ mắc ung thư vú

Cách dùng trinh nữ hoàng cung làm thuốc

Dùng làm thuốc hỗ trợ điều trị U xơ tử cung, u nang buồng trứng, u tuyến tiền liệt

Cách dùng: Đơn giản nhất là sắc nước uống hàng ngày (Lá khô hoặc lá tươi đều tốt).

Cách kết hợp dùng chung với các vị thuốc khác:

Thân và lá cây xạ đen: … 40g

Cây bạch hoa xà thiệt thảo:  40g

Cây bán chi liên: ………….. 15g

Trinh nữ hoàng cung: 5-7 lá khô hoặc tươi

Sắc với 1,5 lít nước (sắc trong thời gian 20 phút) rồi chắt nước uống trong ngày

2. Dùng làm thuốc hỗ trợ điều trị Ung thư vú

Cách dùng: Như trên và kết hợp thêm dùng 5 lá tươi trinh nữ hoàng cung giã nát đắp vào nơi có khối U.

Rất nhiều bệnh nhân dùng cách nước sắc trinh nữ hoàng, xạ đen cung như trên đã thu được kết quả rất tốt.

Trinh nữ hoàng cung được dùng trong phạm vi dân gian để chữa ung thư vú, ung thư tử cung, ung thư tuyến tiền liệt. Lá thái nhỏ, với liều dùng mõi ngày 3 – 5 lá, sao vàng sắc uống. Cũng có người dùng điều trị ung thư dạ dày, ung thư phổi, ung thư gan và chữa đau dạ dày.

Ở các tỉnh phía Nam, trinh nữ hoàng cung được dùng phổ biến chữa bệnh đường tiết niệu.

Dùng ngoài, lá và thân hành giã nát, hơ nóng dùng xoa bóp làm sung huyết da chưa tê thấp, đau nhức.

Ở Ấn Độ, nhân dân dùng thân hành cây trinh nữ hoàng cung xào nóng, giã đắp trị thấp khớp, và cũng dùng đắp trị mụn nhọt và áp xe để gây mưng mủ. Dịch ép lá là thuốc nhỏ tai chữa đau tai.

Ở Campuchia, nhân dân dùng cây trinh nữ hoàng cung để điều trị bệnh phụ khoa.

There are no reviews yet.

Be the first to review “CÂY TRINH NỮ HOÀNG CUNG”